Home » Big4 » ANH EM THÙ ĐỊCH, Nayan Chanda. Tr1-7

ANH EM THÙ ĐỊCH, Nayan Chanda. Tr1-7

LƯU TRỮ

Chủ đề

Lịch

April 2012
M T W T F S S
« Mar   May »
 1
2345678
9101112131415
16171819202122
23242526272829
30  

LỜI CỦA NGƯỜI DỊCH

1989, Quân tình nguyện Việt Nam rút khỏi Campuchia. Cuốn sách của Nayan Chanda đã xong vào năm 1986 và được xuất bản lần đầu tại Singapore năm 1988.

Nayan Chanda  lưu ý rằng:  “Đây là câu chuyện về các cuộc chiến lịch sử ở Đông dương dưới sự ảnh hưởng của nền ngoại giao của các nước lớn. Những biến cố ở Đông Dương, từ khi chiếc trực thăng Mỹ rời khỏi sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon chứng tỏ rõ ràng sự tiên đoán sai lầm dẫn tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt nam. “

Thông tin về cuốn sách

Tác giả: Nayan Chanda
NXB: MACMILLAN , New York,

Loạt sách COLLIERS BOOKS, Colliers Macmillian Canada, Inc.
Tác quyền: 1986,

Nayan Chanda
Bn in đu tiên 1988 ti Singapore

MỤC LỤC

LỜI CẢM TẠ

CÁC NHÂN VẬT

LỜI GIỚI THIỆU: LỐI THOÁT

1. Kẻ thù cũ, cuộc chiến mới  – 9-

Hoàng thân Norodom Sihanouk: Chiến thng
 – 38-

2. Tằm và Chuột – 46-

3. Khúc dạo đầu Bắc kinh -74-

Hoàng thân Norodom Sihanouk: Lui vn
 -103

4. Khái lược về lịch sử
 -108-

5. Hướng về Phương tây  -136

6. Ưa Gió Đông  169

7. Yên lặng trước cơn bão
  -192-

Hoàng thân Sihanouk: Chiếc Cũi  -226-

8. Con đường tới chiến tranh  -231-

9. Người Mỹ hãy  về nước  – 263-

Hoàng thân Sihanouk: K sng sót
 -297-

10. Noel Đỏ
  -313-

11. Đông dương: Mãi mãi chiến tranh? -363-

PHẦN KẾT
  – 407

CHỈ MỤC SỰ KIỆN THEO THỜI GIAN
 – 411-

GHI CHÚ
 – 415-

CHỈ MỤC
 – Tr. 459-

Các bản đồ: tại các trang xii, 50, 55 và 337
Ảnh tư liệu tại các trang 161-168 và 305-312

ANH EM THÙ ĐỊCH

 

GII THIU: Li thoát

MÀN ĐÊM BUÔNG XUỐNG như định mệnh của Sài gòn vào ngày 29/4/1975. Khoảng 6 giờ 30 tối, thành phố bị cắt điện chìm vào bóng tối, âu cũng là sự ân ái của số phận, vì bóng tối giúp che đi nỗi tủi nhục thua trận. Tôi đứng trên tầng thượng của Khách sạn Caravelle trong làn mưa bụi ngắm nhìn đêm cuối của Sài Gòn. Những chiếc trực thăng Mỹ khổng lồ, đèn đỏ nhấp nhoáng, đèn pha thỉnh thoáng nhoáng lên vài vệt sắc lạnh xoi mói, gầm gừ, chao đảo, chấp chới trước khi đáp xuống bãi đỗ trên tầng thượng để đón những người Mỹ còn sót lại và một số cộng sự người Việt của họ chuyển đến nơi an toàn trên Hạm đội Bảy nằm ngoài khơi Biển Nam Trung hoa. Một lúc sau, những chiếc trực thăng rú lên, rồi bốc lên cao biến mất trong những tầng mây mọng nước của mùa mưa nhiệt đới. Hằn trên nền trời bị vạch ngang vạch dọc bởi những lằn đạn pháo sáng nhoang nhoáng, những chiếc trực thăng trông giống như những con rồng khổng lồ đầy sợ hãi đang nhảy những điệu nhảy tử thần trên một thành phố chết.

Từ trên nhìn xuống: một thành phố thủ phủ tối tăm và lặng câm, vốn nổi danh vì cả hai danh hiệu nổi tiếng: Hòn ngọc Viễn đông và Thành phố Đĩ, đang chờ đón những người chiến thắng. Những cao ốc ngả bóng dài dưới ánh chớp của rốc-két dọc đường chân trời, tiếng nổ đùng đục và những vầng sáng vàng bùng lên từ đống vũ khí đạn dược ở Sân bay Tân Sơn Nhất.

Tr.2===

Đại lộ Lê Lợi và Đường Tự Do mờ ảo huyền diệu dưới làn mưa bụi, vắng ngắt bóng người, thỉnh thoảng nhoáng lên một vài vệt đèn xe hơi hối hả chở một số gia đình sỹ quan và nhà giàu đến chờ ở bến sông Sài Gòn để lên thuyền. Thỉnh thoảng lại thấy vẳng lên vài tiếng súng từ phía bến tàu đe dọa những kẻ liều mạng tuyệt vọng chen nhau lên thuyền. Đó là những cơn chấn động cuối cùng của sự hoảng loạn ở Nam Việt Nam từ khi Huế và Đà nẵng thất thủ vào Tháng Ba. Cuộc chạy trốn sự hủy diệt của quân cộng sản đang tiến như vũ bão đã tới hồi kiệt sức. Hồi chiều nay, tôi đã mục kích hàng trăm người Việt chen nhau trước cánh cổng sắt của tòa Đại sứ quán Mỹ, tay vẫy vẫy những mảnh giấy nhỏ – căn cước, giấy chứng nhận, thậm chí hàng xấp Đô la Mỹ – chỉ để được cho vào chỗ xếp hàng chờ trực thăng ở Đại Sứ quán [Hoa kỳ , ND]. Tuy nhiên họ đều tỏ vẻ chán ngán và thất vọng sau một ngày dài chen lấn, ẩu đả trước cánh cổng sắt đóng im lìm của tòa Đại sứ Mỹ được các đơn vị lính thủy đánh bộ giương súng canh gác chặt chẽ. Hàng trăm người bị kẹt lại, chen chúc trên cầu thang của tòa nhà dẫn tới sân đỗ trực thăng, nhưng khi màn đêm buông xuống, mọi tia hy vọng đều tắt phụt theo.

Có những lúc lịch sử vô tình cuốn nhanh không thương tiếc, là lúc sự cáo chung ập đến với tốc độ chóng mặt . Khi quân đội Bắc Việt do Tướng Văn Tiến Dũng bệ vệ dẫn đầu tiến tới Thủ phủ Cao nguyên trung phần Ban Mê Thuột ngày 10/3, tin này kích động sự kinh hoàng lan truyền làm lung lay toàn bộ chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Đó là một đòn táo bạo của Cộng sản tiếp theo đòn tấn công và làm chủ Tỉnh Phước Bình hồi tháng 1 [Có lẽ là Phước Long, thủ phủ là Phước Bình, ND]. Nhưng lúc đó, ít người dám nghĩ rằng đó chính là dấu hiệu khởi đầu của sự cáo chung- một điều sau này đã thành hiện thực. Trước những thách thức mới, Thiệu quyết định quay lại chính sách ban đầu là chiến đấu để chiếm lại từng tấc đất lãnh thổ. Lệnh của Thiệu rút quân chiến thuật khỏi Pleiku và Kontum của Cao nguyên Trung phần, điều một đơn vị tinh nhuệ rút khỏi Huế đã dẫn tới sự tan rã nhanh chóng về chiến lược. Khi đội quân mất tinh thần của Thiệu rút lui một cách hỗn loạn, thì lần lượt Huế, Đà Nẵng và Nha trang cũng như phần còn lại của Nam Việt Nam rụng như sung vào tay Bắc Việt trong vòng vẻn vẹn có ba tuần.

Ngay từ đầu tháng Tư, quân cộng sản đã thắt chặt vòng vây quanh các cửa ngõ Sài Gòn. Người Mỹ tăng cường không vận vũ khí và sơ tán các cộng sự người Việt và bạn bè của họ . Cuộc chiến lan tới Sài GÒn đúng vào ngày Tổng thống Thiệu trốn khỏi đất nước trên một chiếc máy bay vận tải C-118 của Không lực Hoa Kỳ . Sáng sớm ngày 27/4 tôi bị đánh thức bởi một tiếng nổ lớn – loạt đạn rốc két đầu tiên của Cộng sản bắn vào Sài gòn rơi trúng vào Khách sạn Majestic, chỉ cách chỗ tôi ở một tòa nhà . Một đặc vụ cộng sản nằm vùng ở Không lực Việt Nam Cộng hòa, người trước đó đã ném bom vào Dinh Tổng thống, đã lái chiếc máy bay của anh ta quay trở lại tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28/4. Chuyến oanh tạc này và những loạt đạn rốc két, đạn pháo bắn vào sân bay đã chấm dứt cầu hàng không do người Mỹ tổ chức.

Chiến dịch Gió đổi chiều (Di tản không vận) do Hải quân Hoa kỳ mở màn lúc chiều ngày 29/4 để sơ tán những người Mỹ và người Việt bằng trực thăng và hạ màn vào buổi sáng 30/4. Nhìn từ tầng thượng Khách sạn Caravelle, những chiến xa Bắc Việt Nam nối đuôi nhau bò như kiến trên Quốc lộ I từ đoạn Biên Hòa. Từ vị trí chiến sự đắc địa này tôi nhìn thấy rõ một chiếc trực thăng đơn thương độc mã ló ra khỏi bầu trời xám xịt và hạ cánh xuống sân đỗ xi măng trông nhỏ như bao diêm của tòa Đại sứ Mỹ . Sau vài phút, chiếc trực thăng lại cất cánh mang theo nhóm lính thủy Mỹ cuối cùng có nhiệm vụ canh gác Sứ quán. Những lon lựu đạn hỏa mù ném xuống làm bốc lên những đám khói màu hồng, xua dạt đi những đám người Việt chen nhau hy vọng được đáp chuyến cuối cùng. Lượn một vòng gấp để tránh chiếc cột Ăng-ten của Sở Bưu điện, chiếc trực thăng bốc thẳng theo hướng Sông Sài Gòn và mất hút ở đường chân trời phía Đông.Lúc đó là 7 giờ 35 phút sáng. Hai mươi mốt năm tròn kể từ khi Đại tá tình báo CIA Edward Lansdale đặt chân đến Sài Gòn để giám sát huấn luyện cho đội quân chống Cộng của Việt Nam Cộng hòa, chuyến phiêu lưu Đông dương của Hoa kỳ đã chính thức hạ màn.

Bốn giờ sau, khi tôi ngồi một mình trong văn phòng của Reuter, một cơ quan thông tấn của Anh, đối diện với Dinh Tổng thống để thảo một bức điện mô tả cờ cộng sản đang bay rợp trời khắp vùng phụ cận Sài Gòn, tôi nghe thấy tiếng động cơ Diesel gầm gừ và tiếng xích sắt nghiến trên đường. Qua cửa sổ để ngỏ, tôi nhìn thấy một chiếc xe tăng cắm cờ Việt cộng ba màu xanh, đỏ, vàng đang trực chỉ Dinh Tổng thống. Tôi liền vớ lấy chiếc máy ảnh và chạy ra khỏi văn phòng. Khi qua đoạn công viên nằm giữa văn phòng Reuter và Dinh Tổng thống, tôi nhìn thấy chiếc xe tăng bắn chỉ thiên một loạt đạn pháo và đâm thẳng vào chiếc cổng sắt, hất cánh cổng rơi xuống đất. Lính đội mũ tai bèo, mặc quân phục rộng thùng thình và một số lính tăng còn đội nguyên mũ bảo hiểm nhẩy ra khỏi xe nhẩy tới bậc cầu thang để treo cờ Việt cộng.

Tr.4==

Họ đã tới được điểm cuối của Đường mòn Hồ Chí Minh; chiến tranh đã kết thúc.Tôi bàng hoàng về hàng loạt sự kiện ập tới choáng ngợp , không thể tin nổi Chiến tranh Việt Nam -cuộc chiến đi theo tôi hầu hết tuổi trưởng thành- đã kết thúc rồi. Một năm trước đây, khi tôi quyết định cư trú ở Sài Gòn làm phóng viên Đông dương cho tờ Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), tôi đã biết chắc rằng Hiệp định Hòa bình Paris-tác phẩm do Henry Kisinger và ông Lê Đức THọ, Uỷ viên Bộ Chính trị Việt nam soạn thảo ra đã chết yểu. Vi phạm ngừng bắn đã dẫn đến các đợt tấn công quân sự rải rác. Nhưng không ai khi đó có thể nghĩ đến sự sụp đổ (của VN Cộng hòa, ND), kể cả những nhà hoạch định chiến lược của Cộng sản ở Hà Nội. Khoảng giữa tháng Tư đã rõ hơn về thời điểm quyết định sắp đến. Theo lời khuyên khẩn khoản của Ban biên tập ở Hồng Kong, tôi đã thuyết phục được vợ tôi rời Sài gòn, nhưng tôi kiên quyết từ chối đề nghị rút khỏi Sài gòn . Người phụ trách biên tập của tôi gửi tin nhắn rằng “Không có tin nào giá trị bằng tính mạng anh.. hãy ra khỏi nơi đó nếu thấy nguy hiểm”. Trong một lá thư gửi đi Hồng Kông ngày 25/4 tôi trả lời rằng tôi không thể rời nơi này “ mà không được chứng kiến màn cuối của vở kịch”. Chỉ năm ngày sau khi lá thư được gửi đi, Tấn bi kịch đã hạ màn. Lòng tôi nặng trĩu khi chứng kiến nhiều người bạn Việt nam của tôi ra đi, nhiều gia đình ly tán trong cuộc di tản đau đớn này. Tôi đã chứng kiến sự khốn quẫn của hàng nghìn người, để trốn tránh làn sóng thủy triều cộng sản cuồn cuộn chảy đã chạy từ bờ biển Miền Trung tới Cảng Sài gòn để rồi bị kẹt lại ở chính Sài Gòn. Dù sao cũng được một chút an ủi, đó là không có tắm máu như nhiều người đã đồn đại một cách kinh sợ. Sự chia ly dài giữa hai miền Bắc-Nam đã kết thúc theo một cách đáng làm nhiều người phải tò mò tìm hiểu tại sao Người Sài Gòn lại túm tụm xung quanh các chiến xa T54 của Bắc Việt để tán gẫu với các chàng trai bẽn lẽn trong bộ quân phục của Miền Bắc. Còn những lo ngại rồi tương lai sẽ ra sao?, nhưng trên hết là cảm giác: cuối cùng thì Việt Nam cũng được hòa bình, còn những điều khác dần dần sẽ tự hóa giải với thời gian.

Ỏ Campuchia, tấn bi kịch hạ màn sớm hơn 30 ngày, nhưng lại thấy thiếu sự yên ổn đó. Trong chuyến đi gần nhất của tôi tới Phnom Penh tháng 1.1975, tôi đã thấy Quân Khmer đỏ xiết chặt vòng vây quanh đô thành. Dân số Phnom Penh tăng thêm khoảng gần 2 triệu người tỵ nạn. Họ đến Phnom Penh để tránh cuộc chiến, để rồi lại bị ăn đạn rốc két. Khmer đỏ cô lập toàn bộ đường giao thông, để lại duy nhất một đường thoát huyết mạch là qua đường Sông Mê-kông.

Tr. 5==

Những người Mỹ liều mạng tổ chức một cầu hàng không kiểu Berlin để vận chuyển thực phẩm và nhiên liệu, cuối cùng đành phải bỏ tất cả lại vì sân bay Pochentong cũng bị tấn công. Thống chế Lon Non cũng phải gạt nước mắt ra đi, tiếp theo đó là các nhân viên người Mỹ. Ngày 17/4 quân đội Khmer đỏ tiến vào Đô thành và dùng súng cưỡng bức dân ra khỏi đô thành. Hai tuần sau, những người nước ngoài rút vào trú ẩn tại Đại sứ quán Pháp bị lùa lên xe tải đưa sang Thái lan. Campuchia như một tín hiệu vô tuyến yếu ớt phát ra từ cuối đường chân trời đột nhiên im bặt.
Đúng vào lúc chiến tranh Đông dương lần thứ hai đi vào hồi kết, thì một cuộc chiến mới giữa những người đồng chí và anh em lại đang hình thành. Khi kẻ thù đế quốc chưa rời hẳn khỏi vũ đài, thì những nghi ngờ và mối thù truyền kiếp đã lại nổi lên. Những đồng chí hôm qua bắt đầu cân nhắc lợi ích quốc gia của mình. Thực ra, ẩn đằng sau màn bí mật và đằng sau mỹ từ “tình hữu nghị cách mạng” là một bể dày của mối thù truyền kiếp vô hình. Khi đó tôi cũng không ngờ được rằng tôi lại có diễm phúc được trải qua những thời khắc đáng nhớ nhất của một thập kỷ sau đó để đưa tin về cuộc xung đột vốn hình thành ngay từ khi hòa bình đang phôi thai ở Đông dương. Đối với tôi, chiêm nghiệm về thời kỳ này giống như ngắm một tấm dương bản đang ngâm trong khay nước rọi ảnh, thấy mỗi lúc hình ảnh hiện lên một rõ hơn. Hàng năm trời tôi đi lại như con thoi giữa Đông dương và Trung quốc – từ Cánh đồng chết ở CPC tới những ngọn đồi đẫm máu ở biên giới Việt-Trung và nói chuyện với vô số người của cả hai bên chiến tuyến. Với nỗ lực tìm kiếm từng mảnh đã thất lạc để chắp lại bức tranh đố ghép hình về xung đột mới này, tôi đã có hàng trăm cuộc phỏng vấn những nhà hoạch định chính sách, những quan chức của tất cả những nước lớn và các nước láng giềng của Đông dương liên quan tới tấn bi kịch này. Cuốn sách này là sản phẩm của cuộc tìm kiếm 12 năm trước của tôi.

Sự thất thủ của Sài gòn và Phnom Penh là khúc dạo đầu của những xung đột đẫm máu giữa những người Việt Nam mới chiến thắng và những người cộng sản CPC liên quan tới quyền kiểm soát các đảo trong Vịnh Thái lan. Pol Pot, một lãnh tụ của Khmer Đỏ công bố một kế hoạch cưỡng bức tiến nhanh tới Chủ nghĩa xã hội nhằm nhanh chóng mạnh lên để đối mặt với kẻ thù cha truyền con nối là Việt nam. Không bao lâu, những cuộc thanh trừng nội bộ đẫm máu chống lại những phần tử chống đối bị nghi là thân Việt Nam đã trở thành những đợt tấn công trực tiếp vào những làng của người Việt và thảm sát dân thường. Đối với Khmer đỏ đó là cuộc chiến phòng ngừa một mất một còn chống lại một kẻ thù lịch sử được cho là có vận mệnh “nuốt chửng” CPC. Đối với Người Việt Nam, sự thù địch của CPC cộng với sự hậu thuẫn của TQ là sự lặp lại của lịch sử.

Tr.6==

Trung quốc, kẻ thù nghìn năm của VN được coi là đang tìm cách bóp nát  đất nước này bằng hai gọng kìm từ phía Bắc và Tây Nam. Như những lần trước trong lịch sử hàng ngàn năm chống lại Trung quốc, Việt Nam một lần nữa lại sẵn sàng đối đầu với mối đe dọa bị tấn công, và điều đó đã xảy ra vào cuối năm 1977. Cuộc xung đột dấu mặt ở Campuchia bùng nổ công khai vào ngày đầu năm 1978, khi đài phát thanh Phnom Penh loan báo với thế giới rằng họ là nạn nhân của “Việt Nam xâm lược”. Trong vòng năm tháng, ngọn lửa tràn tới phía Bắc. Khi người thiểu số Hoa kiều ồ ạt rời Việt Nam như từng đợt song, thì Bắc Kinh bắt đầu vén bức màn bí mật và tố giác Hà Nội “trừng phạt” Hoa Kiều và nhằm làm “bá quyền” ở Đông Dương. Sự gia tăng quan hệ của Việt Nam với Liên Xô gợi lên cho Trung Hoa cơn ác mộng lịch sử- cùng lúc bị những “kẻ tây dương man rợ “ ở phía bắc đe doạ và đồng thời bị đe doạ từ phía Nam. Từ mùa hè năm 1978, Trung quốc đã lập  kế hoạch trừng phạt Việt Nam “vong ân”, quốc gia đã từng hưởng viện trợ của Trung Hoa trong ba thập niên. Vì vậy, ngay khi mối liên minh với Khmer Đỏ bị sụp đổ hoàn toàn vì cuộc tấn công toàn diện của Việt Nam năm 1979, thì Trung quốc đã sẵn sàng thực hiện sự trừng phạt này.

Cuộc xung đột ở Đông Dương liên hệ mật thiết đến quan hệ thù địch Xô-Mỹ và quan hệ liên minh Mỹ -Trung đang phát triển. Trong khi Kampuchia Dân Chủ dưới sự cai trị của Khmer Đỏ đóng cửa biên giới và dựa hoàn toàn vào Trung quốc, thì từ 1975, Hà Nội cố gắng phát triển một chính sách ngoại giao độc lập, dựa trên quan hệ cân bằng giữa hai siêu cường. Mùa hè năm 1977, Hà Nội tiến rất gần mục tiêu thiết lập được quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, nếu không khăng khăng yêu cầu viện trợ tái thiết. Một năm sau, khi xung đột với Kampuchia và với Trung quốc sắp bùng nổ thành chiến tranh, thì Việt Nam càng cần  thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và đã từ bỏ yêu cầu viện trợ tái thiết  sau chiến tranh. Vào lúc đó, bánh xe số phận của thời cuộc quốc tế đã xoay chuyển. Việt Nam không hề biết rằng Trung quốc đã quyết định “dạy cho Việt nam một bài học “ và đã tăng cường nỗ lực để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Hoa Kỳ trước khi ra tay.  Mong muốn của Bắc Kinh hoàn toàn phù hợp với mong muốn của (tổng thống Mỹ) Jimmy Carter và cố vấn An Ninh Quốc Gia của ông ta, đó là tìm kiếm quan hệ đối tác với Trung quốc để xây dựng liên minh toàn cầu chống Liên Xô. Họ (Hoa Kỳ) quyết định xếp lại việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam  và bí mật thúc đẩy việc thiết lập quan hệ với Bắc Kinh. (tr.7) Sau ba thập niên tham gia cuộc chiến ở Việt Nam chống lại sự “bành trướng của Trung Hoa”, Hoa Kỳ, rốt cục lại trở thành đồng minh im lặng trong cuộc chiến của Bắc kinh chống Việt Nam. Tháng Hai năm 1979, trong niềm hân hoan vì thắng lợi của chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, Phó chủ tịch nước Trung Hoa Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh tấn công trừng phạt Việt Nam.

Hai sự kiện Việt Nam chiếm đóng Kampuchia và Trung Hoa tấn công Việt Nam đều bắt nguồn từ mối xung đột đã âm thầm gia tăng từ sau năm 1975 mà không có phương cách giải quyết. Vào đầu năm 1986, trong khi khoảng 180 ngàn quân Việt Nam còn ở lại Kampuchia để chiến đấu với du kích Khmer Đỏ, thì lính Trung quốc tiếp tục nã đại pháo vào vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam và tổ chức những đợt tấn công định kỳ bằng bộ binh vào đất của Việt Nam. Mặc dù bị đánh đuổi ra khỏi Phnom Pênh, chính phủ liên  hiệp của Khmer đỏ mang tên nước Kampuchia Dân chủ vẫn được công nhận là chính phủ hợp pháp. Trong khi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba còn đang tiếp diễn thì bình diện quốc tế đã thay đổi đáng kể. Nhờ vào cuộc chiến tranh Trung-Việt mà Mát-xcơ va tiếp cận được các căn cứ quân sự ở Việt Nam để để mở rộng ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Mối hy vọng đánh đổi sự ủng hộ của Mỹ trong cuộc chiến Trung quốc chống Việt nam để đổi lấy  một liên minh chống Liên Xô do Washington đứng đầu đã bị tan biến vì Trung quốc quay lại chính sách ngoại giao độc lập và bắt đầu các cuộc trao đổi bình thường với Liên Xô . Quay lại 180 độ, Việt Nam tuy mạnh về quân sự nhưng bị cô lập và với nền kinh tế rách nát đã bắt đầu tìm cách nối lại mối quan hệ rất khó tiên liệu với Hoa Kỳ

Đây là câu chuyện về các cuộc chiến lịch sử ở Đông dương dưới sự ảnh hưởng của nền ngoại giao của các nước lớn. Những biến cố ở Đông Dương, từ khi chiếc trực thăng Mỹ rời khỏi sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon chứng tỏ rõ ràng sự tiên đoán sai lầm dẫn tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt nam. Các nhà lập kế hoạch của Hoa kỳ dự tính rằng Việt Nam là lưỡi dao sắc bén tiếp tay cho sự bành trướng của Trung Hoa ở châu Á, nhưng trên thực tế Việt Nam lại trở thành kẻ thù, nạn nhân cay đắng của Trung quốc. Khome đỏ đã từng được nhận diện là công cụ của Hà Nội thì cuối cùng lại tự bộc lộ  là kẻ thì sống còn của Việt Nam. Lịch sử thập niên vừa qua được xem như một bài học khách quan: Lịch sử và Chủ nghĩa dân tộc – chứ không phải hệ tư tưởng- đã vẽ nên tương lai của khu vực mong manh này. Cho dù hiện tượng có thế nào đi nữa thì về bản chất, rất khó tìm thấy (ai là) những con rối thật sự ở khu vực Đông dương này.

Hết trang 7

còn tiếp

Tr.9:  1. NHỮNG KẺ THÙ CŨ, CUỘC CHIẾN MỚI



Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

ChiDzung

Tin Dong Nam A

Opinion

Just another WordPress.com weblog

Tin Dong Nam A

Trustbuilding's Blog

Just another WordPress.com site

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.