Home » Tổ chức Nhà nước » Thể chế chính trị ở Campuchia (I)

Thể chế chính trị ở Campuchia (I)

LƯU TRỮ

Chủ đề

Lịch

May 2012
M T W T F S S
« Apr   Jun »
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
28293031  

I. Tóm tắt một số giai đoạn lịch sử quan trọng qua các thời đại:

– Những năm 60 của thế kỷ 19 thực dân Pháp vào Đông Dương. Năm 1863, Pháp buộc Vua Nô-rô-đôm (Norodom) phải ký Hiệp ước đặt Campuchia dưới sự bảo hộ của Pháp và đến 1884 Campuchia hoàn toàn trở thành thuộc địa của Pháp.

– Năm 1941, Nô-rô-đôm Xi-ha-núc (Norodom Sihanouk) sau khi lên ngôi lần thứ nhất đã vận động cuộc đấu tranh giành lại nền độc lập cho Campuchia. Ngày 09/11/1953, Pháp tuyên bố trao trả độc lập cho Campuchia. Tháng 4/1955, Xi-ha-núc thoái vị nhường ngôi Vua cho cha là Nô-rô-đom Xu-ra-ma-rit (Norodom Suramarith) để thành lập Cộng đồng xã hội bình dân. Trong cuộc tuyển cử 9/1955, Cộng đồng xã hội bình dân đã giành được thắng lợi lớn, Xi-ha-núc trở thành Thủ tướng, tập trung mọi quyền lực vào tay mình. Năm 1960, Quốc vương Xu-ra-ma-rit qua đời, Xi-ha-núc được Quốc hội bầu làm Quốc trưởng.

– Ngày 18/3/1970, Lôn Nôn – Xi-ríc Ma-tắc (Lon Nol – Siric Matak), được sự hậu thuẫn của Mỹ đảo chính Xi-ha-núc, thành lập “Cộng hoà Khmer” (10/1970). Xi-ha-núc và Hoàng tộc sang cư trú tại Trung Quốc và sau đó thành lập Mặt trận Đoàn kết dân tộc Campuchia (FUNK) và Chính phủ Đoàn kết dân tộc Vương quốc Campuchia (GRUNK) đặt trụ sở tại Bắc Kinh.

– Ngày 17/4/1975, Pôn Pốt (Pol Pot) lật đổ chế độ Cộng hoà của Lôn Nôn, thành lập nước “Campuchia dân chủ”, thực hiện chế độ diệt chủng tàn khốc nhất trong lịch sử của Campuchia.

– Ngày 2/12/1978, Mặt trận giải phóng dân tộc Campuchia ra đời do ông Hêng Xom-rin (Heng Samrin) làm Chủ tịch. Ngày 07/1/1979, với sự giúp đỡ của quân tình nguyện Việt Nam, nhân dân Campuchia đã đứng lên lật đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt – Iêng Xary (Pol Pot – Yeng Sari), thành lập nước “Cộng hoà Nhân dân Campuchia”, năm 1989 đổi thành “Nhà nước Campuchia” (SOC).

– Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình Campuchia được ký kết giữa 19 nước và 4 phái Campuchia tại thủ đô Pa-ri (Pháp). Ngày 23-25/5/1993, Tổng tuyển cử lần thứ nhất ở Campuchia để bầu Quốc hội lập hiến do Cơ quan quyền lực lâm thời của Liên hợp quốc (UNTAC) tổ chức. Kết quả Đảng Bảo hoàng FUNCINPEC (FUN) giành 58 ghế, Đảng Nhân dân Campuchia (CPP): 51 ghế, Đảng Dân chủ Tự do Phật giáo (BLDP): 10 ghế và Molinaka: 1 ghế. Ngày 24/9/1993, Quốc hội lập hiến được thành lập và ban hành Hiến pháp mới, tên nước đổi thành Vương quốc Campuchia theo chế độ Quân chủ lập hiến, thực hiện chế độ đa đảng và nền kinh tế thị trường. Sau đó Chính phủ Liên hiệp CPP-FUN nhiệm kỳ I được thành lập. N. Xi-ha-núc lên ngôi Vua lần thứ hai.

– Ngày 26/7/1998, Tổng tuyển cử lần thứ hai. CPP được 64 ghế, FUN: được 43 ghế, đảng đối lập Sam Rainsy (SRP) được 15 ghế. Quốc hội Campuchia do Hoàng thân Ra-na-rit làm Chủ tịch. Chính phủ Hoàng gia nhiệm kỳ II tiếp tục là Chính phủ liên hiệp giữa CPP và FUN.

– Ngày 27/7/2003, Tổng tuyển cử lần thứ ba bầu ra 123 ghế trong Quốc hội, ba đảng lớn giành thắng lợi là CPP: 73 ghế, FUN: 26 ghế, SRP: 24 ghế. Ngày 15/7/2004, Chính phủ liên hiệp CPP-FUN nhiệm kỳ III được thành lập, Xăm-đéc Hun Xen (Samdech Hun Sen) tiếp tục giữ chức Thủ tướng, Hoàng thân Nô-rô-đôm Ra-na-rit (Norodom Ranariddh) giữ chức Chủ tịch Quốc hội. Cơ cấu quyền lực được phân chia theo công thức 60-40 (CPP: 60; FUN: 40).

– Ngày 06/10/2004, Quốc vương Xi-ha-núc tuyên bố thoái vị; ngày 08/10/2004, Quốc hội Campuchia bỏ phiếu thông qua Luật về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Ngôi Vua; ngày 11/10/2004, Thượng viện Campuchia thông qua và quyền Quốc trưởng Chia Xim ký ban hành Luật này; ngày 14/10/2004, Hội đồng Ngôi Vua đã bầu Hoàng tử Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni (Norodom Sihamoni) làm Quốc vương mới. Ngày 29/10/2004, Quốc vương N. Xi-ha-mô-ni chính thức đăng quang.

– Ngày 27/7/2008, tại Tổng tuyển cử lần thứ tư, Đảng CPP tiếp tục giành thắng lợi lớn với 90/123 ghế (tăng 17 ghế so với năm 2003), SRP: 26/123 (tăng 02 ghế), HRP: 03 ghế, FUN: 02 ghế, NRP: 02 ghế. Trong bốn lần tổng tuyển cử, tại lần tổng tuyển cử thứ 4 năm 2008, Đảng CPP dù chiếm đa số, nhưng không thể tự mình thành lập chính phủ do không giành được tỷ lệ đa số ghế 2/3 cần thiết theo luật định. Chính vì vậy, CPP buộc phải tìm kiếm liên minh từ FUNCINPEC, trên tinh thần đoàn kết dân tộc.

Ngày 25/9/2008, Chính phủ liên hiệp CPP-FUN nhiệm kỳ IV được thành lập, Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Xê-na Pạ-đây Tê-chô Hun Xen tiếp tục giữ chức Thủ tướng Chính phủ Hoàng gia nhiệm kỳ IV.

II. THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ :

1- Thể chế nhà nước: Hiến pháp năm 1993 qui định Campuchia là quốc gia Quân chủ lập hiến. Hệ thống quyền lực được phân định rõ giữa lập pháp, hành pháp và tư pháp gồm: Vua, Hội đồng ngôi Vua, Thượng viện, Quốc hội, Chính phủ, Toà án, Hội đồng Hiến pháp và các cơ quan hành chính các cấp (xem đơn vị hành chính địa phương ).

2- Hành pháp:Đứng đầu nhà nước: Quốc vương Nô-rô-đôm Xi-ha-mô-ni, lên ngôi ngày 29/10/2004. Nội các: Hội đồng Bộ trưởng do Quốc vương ký sắc lệnh bổ nhiệm. Hiện nay, đứng đầu Chính phủ gồm 01 Thủ tướng và 08 Phó Thủ tướng. Thủ tướng đương nhiệm là Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Xê-na Pạ-đây Tê-chô HUN XEN (Samdech Akka Maha Sena Padei Techo HUN SEN) (CPP).

3- Lập pháp: Lưỡng viện (ngày 08/3/1999 Campuchia sửa đổi Hiến pháp, lập thêm Thượng viện).

– Quốc hội: Chủ tịch Quốc hội Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Pô-nhia Chạ-kơ-rây HÊNG XOM-RIN (Samdech Akka Maha Ponhea Chakrei HENG SAMRIN) (người CPP); có 123 ghế, bầu đại biểu theo chế độ phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Campuchia đã tổ chức bầu cử Quốc hội 4 lần (1993, 1998, 2003, 2008).

 – Thượng viện: Chủ tịch: Xăm-đéc Ạ-kẹ Mô-ha Thôm-mẹ Pô-thị-xal CHIA XIM (Samdech Akka Maha Thamma Pothisal CHEA SIM) (người CPP); nhiệm kỳ 5 năm.

Thượng viện có 61 ghế, trong đó 02 ghế do Quốc vương bổ nhiệm, 02 ghế do Quốc hội chỉ định. Thượng viện nhiệm kỳ I thành lập tháng 3/1999 không qua bầu cử, các đảng có chân trong Quốc hội bổ nhiệm thành viên theo tỷ lệ số ghế có trong Quốc hội. Bầu cử Thượng viện nhiệm kỳ II diễn ra ngày 22/1/2007 thông qua bỏ phiếu kín và không trực tiếp (indirect), kết quả CPP giành 45/61 ghế, FUN: 10 ghế và SRP: 02 ghế. Bầu cử Thượng viện nhiệm kỳ 3 ngày 6/1/2012 (bổ sung kết quả)

– Tư pháp: Hội đồng Thẩm phán tối cao (được Hiến pháp quy định, thành lập 12/1997); Toà án Tối cao và các Toà án địa phương (cấp tỉnh).

Bầu cử Quốc hội: Campuchia đã tổ chức bốn lần bầu cử Quốc hội (các năm 1993, 1998, 2003, 2008). Tại cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 4 (ngày 27/7/2008), Campuchia có 11/57 chính đảng tham dự. Cuộc bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 4 (2008-2013) ngày 27/7/2008 diễn ra suôn sẻ và được dư luận chung đánh giá tích cực. Trong 11 đảng chính trị tham gia tranh cử, có 04 đảng giành được ghế trong Quốc hội. Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) giành thắng lợi lớn với 90/123 ghế (tăng 17 ghế so với bầu cử 2003) và đủ điều kiện để một mình đứng ra lập chính phủ. Ngày 24/9/2008, Quốc hội mới đã được triệu tập và ngày 25/9/2008, Quốc hội đã bỏ phiếu tín nhiệm Chính phủ mới nhiệm kỳ 4 do CPP lãnh đạo (liên minh với FUNCINPEC); CPP nắm tất cả 26 bộ của Chính phủ mới. Kết quả bầu cử Quốc hội và lập chính phủ cho thấy CPP tiếp tục giữ vai trò chi phối chính trường Campuchia. Cuộc bầu cử Quốc hội nhiệm kỳ 5 sẽ được tổ chức vào tháng 7/2013.

Nghi viện

Cơ quan lập pháp lưỡng viện của Campuchia gồm Hạ viện với 123 ghế và Thượng viện với 61 ghế, nhiệm kỳ 5 năm đối với hai viện. Kể từ năm 1998, Campuchia bắt đầu áp dụng chế độ bầu cử theo tỷ lệ đại diện.

Campuchia đã tổ chức bốn lần bầu cử Quốc hội (các năm 1993, 1998, 2003, 2008).Các luật về bầu cử cũng luôn được sửa đổi, bổ sung và lần điều chỉnh mới nhất là tháng 7.2008.

Cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 4 (ngày 27/7/2008), Campuchia có 11/57 chính đảng tham dự. Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) vừa giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội với 90 ghế (hơn 70%) trong tổng số 123 ghế, nhiều hơn lần trước 17 ghế và vượt cả dự báo trước đó 10 ghế. Quốc hội hiện nay của Campuchia có 9 Ủy ban đều do người của Đảng CPP giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban.

Quốc hội: Quốc hội có 123 ghế, bầu đại biểu theo chế độ phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm. Campuchia đã tổ chức bầu cử Quốc hội 4 lần (1993, 1998, 2003, 2008). Tại cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 4 (ngày 27/7/2008), Campuchia có 11/57 chính đảng tham dự. Đảng Nhân dân Campuchia (CPP) giành 90 ghế (hơn 70%) trong tổng số 123 ghế, nhiều hơn lần trước 17 ghế và vượt cả dự báo trước đó 10 ghế. Đảng Sam Rainsy (SRP) đối lập giành được 26 ghế, đảng Nhân quyền (HRP) – 3 ghế, đảng Norodom Ranariddh – 2 ghế, FUNCINPEC – 2 ghế.

Thẩm quyền của Quốc hội: Quốc hội có quyền biểu quyết các vấn đề như: ban hành luật, quyết định ngân sách quốc gia, kế hoạch Nhà nước, tài chính, sửa đổi hay hủy bỏ các loại thuế, thông qua việc ân xá các loại tội phạm.

Quyền hạn của Đại biểu Quốc hội: ĐBQH có quyền chất vấn các thành viên của Chính phủ thông qua Chủ tịch Quốc hội. Quốc hội có thể phế truất thành viên Chính phủ khi có 2/3 tổng số đại biểu biểu quyết thông qua bản kiến nghị khiển trách. Bản kiến nghị này phải được ít nhất 30 đại biểu Quốc hội đề xuất mới được Quốc hội họp để biểu quyết.

Thượng Nghị viện

Theo quy định của Hiến pháp Campuchia, số lượng thành viên của Thượng Nghị viện là không quá nửa tổng số thành viên của Quốc hội. Trong số này, Quốc vương sẽ chỉ định hai Thượng Nghị sĩ và Quốc hội chỉ định hai Thượng Nghị sĩ, số còn lại sẽ được bầu chọn qua phổ thông đầu phiếu gián tiếp qua bầu cử của ĐBQH, Đại biểu Hội đồng xã phường..

Nhiệm kỳ của Thượng Nghị viện là 6 năm, họp thường kỳ 2 lần 1 năm, mỗi lần họp cách nhau ít nhất ba tháng và được tổ chức tại Tòa Thượng viện đặt ở thủ đô trừ trường hợp đặc biệt, Khi có yêu cầu của Quốc vương hoặc đề nghị của Thủ tướng hay 1/3 số đại biểu thì ủy ban thương trực của Thượng viện sẽ triệu tập cuộc họp bất thường.

Thẩm quyền của Thượng Nghị sĩ: Thượng Nghị sĩ được hưởng quyền miễn trừ, không ai bị cản trở, khởi tố, bắt giữ khi đang thi hành nhiệm vụ trừ trường hợp có hành vi chống đối công khai gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự.

Các cuộc họp của Thượng Nghị viện được tổ chức công khai, trừ khi có yêu cầu của Chủ tịch Thượng viện hay của ít nhất 1/10 tổng số Thượng Nghị sĩ hoặc của Vua, Thủ tướng hay Chủ tịch Quốc hội thì Thượng Nghị viện họp kín. trừ khi có yêu cầu của Chủ tịch Thượng nghị viện hay ít nhất 1/10 tổng số thượng nghị sĩ hoặc của Nhà vua , Thủ tướng hay chủ tịch Quốc hội thì Thượng nghị viện sẽ họp kín.

Họp hai viện: Trong trường hợp đặc biệt, Quốc hội và Thượng Nghị viện có thể hợp nhất để giải quyết những vấn đề quan trọng của quốc gia. Việc tổ chức và hoạt động trong quá trình hợp nhất sẽ được quyết định theo luật.

Theo quy định của Hiến pháp, thượng nghị sỹ không được tham gia bất kỳ tổ chức hay cơ quan chính quyền nào khác.

Tổ chức: Đứng đầu Thượng nghị viện là chủ tịch thượng viện, giúp việc cho chủ tịch là phó chủ tịch và các thành viên của các ủy ban trong thượng viện.

Thành viên của Ủy ban thường trực gồm chủ tịch phó chủ tịch thượng viện và cá chủ nhiệm các ủy ban.

Quyền nghị sỹ: Các thượng nghị sỹ được hưởng quyền đặc miễn , không bị cản trở, khởi tố, bắt giữ khi đang thi hành nhiệm vụ trừ trường hợp có hành vi chống đối công khai gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự . Trong trường hợp này cơ quan có thẩm quyền sẽ phải báo cáo trực tiếp cho thượng nghị viện hoặc Ủy ban thường trực Thượng nghị viện. Nếu có quyết định cho phép của ủy ban thường trực Thượng nghị viện cùng sự đồng ý của 2/3 tổng số Thượng nghị sĩ thì lệnh khởi tố bắt giữ sẽ được thi hành nhưng nếu có ¾ số phiếu của Thượng viện chống lại thì lệnh khởi tố, bắt giữ sẽ bị hủy bỏ.

Thẩm quyền Thượng viện: Công việc của Thượng nghị viện là Phối hợp công tác giữa quốc hội và Chính phủ.

Quy trình lập pháp hai viện: Thượng nghị viện sẽ xem bản luật dự thảo đã được Quốc hội thông qua lần thứ nhất và những vấn đề khác được Quốc hội đề nghị trong khoảng thời gian không quá 01 tháng. Nếu đó là trường hợp khẩn cấp thì lượng thời gian sẽ rút ngắn xuống còn 7 ngày. Có 03 trường hợp xảy ra. Nếu Thượng nghị chấp thuận hoặc không chấp thuận ngoài thời gian được quy định thì luật sẽ được công bố. Trường hợp Thượng nghị viện yêu cầu sửa đổi thì Quốc hội xem xét lại lần thứ hai trong vòng một tháng, nếu là vấn đề ngân sách quốc gia thì thời gian này giảm đến 10 ngày nếu là trường hợp khẩn cấp thì chỉ giảm đến 02 ngày.; trường hợp Thượng nghị viện phủ quyết bản luật dự thảo thì Quốc hội xem xét lại lần thứ hai trước khoảng 01 tháng nếu là vấn đề ngân sách quốc gia thì thời gian này bị giảm đến 15 ngày nếu là trường hợp khẩn cấp thỉ chỉ giảm đến 04 ngày. Trong lần xem xét lại Quốc hội sẽ thông qua bằng cách bỏ phiếu. Nếu số phiếu thuận chiếm đa số tuyệt đối thì bản luật dự thảo sẽ được công bố. Về nguyện tắc nếu Quốc hội từ chối nhằm kéo dài hay trì hoãn trong quá trình xem xét luật thì thời gian kéo dài cho cả Quốc hội và Thượng nghị viện là như nhau.

Sau khi hết nhiệm kỳ mà đất nước có chiến tranh hay có lý do đặc biệt nào khác thì mà không thể bầu lại Thượng nghị viện thì Quốc vương có thể đề nghị Thượng nghị viện đượng nhiệm tiếp tục thêm nhiệm kỳ từng năm một với sự chấp thuận của ít nhất 2/3 tổng số thành viên đương nhiệm Trong trường hợp đặc biệt , Quốc hội và thượng nghị viện có thể hợp nhất để giải quyết những vấn đề quan trọng của quốc gia. Việc hợp nhất và hoạt động trong quá trình hợp nhất được quyết định theo luật.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

ChiDzung

Tin Dong Nam A

Opinion

Just another WordPress.com weblog

Tin Dong Nam A

Trustbuilding's Blog

Just another WordPress.com site

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.