Home » Book » ANH EM THÙ ĐỊCH – Tr.1-20

ANH EM THÙ ĐỊCH – Tr.1-20

LƯU TRỮ

Chủ đề

Lịch

September 2012
M T W T F S S
« Aug   Oct »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

ANH EM THÙ ĐỊCH

Nayan Chanda
Người dịch Nguyễn Chí Dũng

LỜI NGƯỜI DỊCH

1989 Quân đội Tình nguyện Việt Nam rút hoàn toàn khỏi Campuchia. Cuốn sách của Nayan Chanda hoàn thành vào năm 1986 và được xuất bản lần đầu tại Singapore năm 1988.

Cuộc chiến ở Campuchia từ 1975-1989, được Tác giả đặt tên là Cuộc chiến tranh Đông dương lần thứ ba, là cuộc chiến bất đắc dĩ, không tránh khỏi giữa những người ngày hôm qua còn là anh em; là cuộc chiến vì thù hận dân tộc, tranh chấp biên giới từ thời Thực dân để lại; cuộc chiến được gia tăng bởi các thế lực nước lớn muốn kiểm soát khu vực này. Những nước lớn luôn luôn là một phần lịch sử chiến tranh ở Đông dương.

Nayan Chanda là nhà báo, chuyên viết ký sự, đưa tin chiến tranh. Tôi gặp Nayan năm 2000 tại một Forum về Việt Nam tổ chức tại Boston Uni. Mãi đến khi tới Campuchia một thời gian, có dịp tìm hiểu về lịch sử chiến tranh của thời kỳ này, tôi mới có thời gian đọc kỹ cuốn sách này.

Bản dịch dành cho những người muốn tìm hiểu cuộc chiến ở Đông dương sau cuộc chiến Mỹ tại Việt Nam. Lưu ý trong phần dẫn nhập cuốn sách của Tác giả rất đáng chú ý và có thể trích làm giới thiệu sách cho bạn đọc quan tâm:

“ Đây là câu chuyện về các cuộc chiến lịch sử ở Đông dương dưới sự ảnh hưởng của nền ngoại giao của các nước lớn. Những biến cố ở Đông Dương, từ khi chiếc trực thăng Mỹ rời khỏi sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon chứng tỏ rõ ràng sự tiên đoán sai lầm dẫn tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt nam.”
Bản dịch cố gắng đưa lại nguyên văn ý tưởng và cách hành văn, dùng từ của Tác giả.

Bạn đọc có ý kiến góp ý xin liên hệ qua https://baomoi12.wordpress.com

– Nguyễn Chí Dũng, Phnom Penh, Tháng Tư 2012-

THÔNG TIN VỀ SÁCH:

BROTHER ENEMY
CHIẾN TRANH KẾ TIẾP CHIẾN TRANH
MỘT CHƯƠNG LỊCH SỬ ĐÔNG DƯƠNG SAU THẤT THỦ SÀI GÒN – Tác giả: Nayan Chanda
NXB: MACMILLAN , New York, Loạt sách COLLIERS BOOKS, Colliers Macmillian Canada, Inc.
Tác quyền: 1986, Nayan Chanda, Singapore.
MỤC LỤC
LỜI CẢM TẠ
CÁC NHÂN VẬT
LỜI GIỚI THIỆU: LỐI THOÁT Trang (Nguyên bản )
1. Kẻ thù cũ, cuộc chiến mới – 9-
Hoàng thân Norodom Sihanouk: – 38-
2. Tằm và Chuột – 46-
3. Khúc dạo đầu Bắc kinh -74-
Hoàng thân Norodom Sihanouk: Lui về ở ẩn -103
4. Khái lược về lịch sử
 -108-
5. Hướng về Phương tây -136
6. Ưa Gió Đông 169
7. Yên lặng trước cơn bão
 -192-
Hoàng thân Sihanouk: Chiếc cũi -226-
8. Con đường tới chiến tranh -231-
9. Người Mỹ hãy về nước – 263-
Hoàng thân Sihanouk: Người sống sót -297-
10. Noel Đỏ
 -313-
11. Đông dương: Mãi mãi chiến tranh? -363-
PHẦN KẾT
 – 407
CHỈ MỤC SỰ KIỆN THEO THỜI GIAN
 – 411-
GHI CHÚ
 – 415-
CHỈ MỤC
 – 459-
Các bản đồ: tại các trang xii, 50, 55 và 337
Ảnh tư liệu tại các trang 161-168 và 305-312

ANH EM THÙ ĐỊCH

Nayan Chanda
Người dịch Nguyễn Chí Dũng

Tặng Bố tôi, người đã gợi mở mọi điều, và tặng Geetanjali, người đã làm cho điều đó thành hiện thực.

LỜI CẢM ƠN
CÁC NHÂN VẬT
DẪN NHẬP:

LỐI THOÁT

MÀN ĐÊM BUÔNG XUỐNG như định mệnh của Sài gòn vào ngày 29 Tháng Tư năm 1975. Khoảng 6 giờ 30 tối, thành phố bị cắt điện chìm vào bóng tối, âu cũng là sự ân ái của số phận, vì bóng tối giúp che đi nỗi tủi nhục thua trận. Tôi đứng trên tầng thượng của Khách sạn Caravelle trong làn mưa bụi ngắm nhìn đêm cuối của Sài Gòn. Những chiếc trực thăng Mỹ khổng lồ, đèn đỏ nhấp nhoáng, đèn pha thỉnh thoáng nhoáng lên vài vệt sắc lạnh xoi mói, gầm gừ, chao đảo, chấp chới trước khi đáp xuống bãi đỗ trên tầng thượng để đón những người Mỹ còn sót lại và một số cộng sự người Việt của họ chuyển đến nơi an toàn trên Hạm đội Bảy nằm ngoài khơi Biển Nam Trung hoa. Một lúc sau, những chiếc trực thăng rú lên, rồi bốc lên cao biến mất trong những tầng mây mọng nước của mùa mưa nhiệt đới. Hằn trên nền trời bị vạch ngang vạch dọc bởi những lằn đạn pháo sáng nhoang nhoáng, những chiếc trực thăng trông giống như những con rồng khổng lồ đầy sợ hãi đang nhảy những điệu nhảy tử thần trên một thành phố chết.

Từ trên nhìn xuống: một thành phố thủ phủ tối tăm và lặng câm, vốn nổi danh vì cả hai danh hiệu nổi tiếng: Hòn ngọc Viễn đông và Thành phố Đĩ, đang chờ đón những người chiến thắng. Những cao ốc ngả bóng dài dưới ánh chớp của rốc-két dọc đường chân trời, tiếng nổ đùng đục và những vầng sáng vàng bùng lên từ đống vũ khí đạn dược ở Sân bay Tân Sơn Nhất.

Đại lộ Lê Lợi và Đường Tự Do mờ ảo huyền diệu dưới làn mưa bụi, vắng ngắt bóng người, thỉnh thoảng nhoáng lên một vài vệt đèn xe hơi hối hả chở một số gia đình sỹ quan và nhà giàu đến chờ ở bến sông Sài Gòn để lên thuyền. Thỉnh thoảng lại thấy vẳng lên vài tiếng súng từ phía bến tàu đe dọa những kẻ liều mạng tuyệt vọng chen nhau lên thuyền. Đó là những cơn chấn động cuối cùng của sự hoảng loạn ở Nam Việt Nam từ khi Huế và Đà nẵng thất thủ vào tháng Ba. Cuộc chạy trốn sự hủy diệt của quân cộng sản đang tiến như vũ bão đã tới hồi kiệt sức. Hồi chiều nay, tôi đã mục kích hàng trăm người Việt chen nhau trước cánh cổng sắt của tòa Đại sứ quán Mỹ, tay vẫy vẫy những mảnh giấy nhỏ – căn cước, giấy chứng nhận, thậm chí hàng xấp Đô la Mỹ – chỉ để được cho vào chỗ xếp hàng chờ trực thăng ở Đại Sứ quán [Hoa kỳ , ND]. Tuy nhiên họ đều tỏ vẻ chán ngán và thất vọng sau một ngày dài chen lấn, ẩu đả trước cánh cổng sắt đóng im lìm của tòa Đại sứ Mỹ được các đơn vị lính thủy đánh bộ giương súng canh gác nghiêm ngặt. Hàng trăm người bị kẹt lại, chen chúc trên cầu thang của tòa nhà dẫn tới sân đỗ trực thăng, nhưng khi màn đêm buông xuống, mọi tia hy vọng đều tắt phụt theo.

Có những lúc lịch sử vô tình cuốn nhanh không thương tiếc, là lúc sự cáo chung ập đến với tốc độ chóng mặt . Khi quân đội Bắc Việt do Tướng Văn Tiến Dũng bệ vệ dẫn đầu tiến tới Thủ phủ Cao nguyên trung phần Ban Mê Thuột ngày 10 Tháng Ba, tin này kích động sự kinh hoàng lan truyền làm lung lay toàn bộ chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Đó là một đòn táo bạo của Cộng sản tiếp theo đòn tấn công và làm chủ Tỉnh Phước Bình hồi tháng Một [có lẽ là tỉnh Phước Long, thủ phủ là Phước Bình, ND]. Nhưng lúc đó, ít người dám nghĩ rằng đó chính là dấu hiệu khởi đầu của sự cáo chung- một điều sau này đã thành hiện thực. Trước những thách thức mới, Thiệu quyết định quay lại chính sách ban đầu là chiến đấu để chiếm lại từng tấc đất lãnh thổ. Lệnh của Thiệu rút quân chiến thuật khỏi Pleiku và Kontum của Cao nguyên Trung phần, điều một đơn vị tinh nhuệ rút khỏi Huế đã dẫn tới sự tan rã nhanh chóng về chiến lược. Khi đội quân mất tinh thần của Thiệu rút lui một cách hỗn loạn, thì lần lượt Huế, Đà Nẵng và Nha trang cũng như phần còn lại của Nam Việt Nam lần lượt rụng như sung vào tay Bắc Việt trong vòng vẻn vẹn có ba tuần.

Ngay từ đầu tháng Tư, quân cộng sản đã thắt chặt vòng vây quanh các cửa ngõ Sài Gòn. Người Mỹ tăng cường không vận vũ khí và sơ tán các cộng sự người Việt và bạn bè của họ . Cuộc chiến lan tới Sài Gòn đúng vào ngày Tổng thống Thiệu trốn khỏi đất nước trên một chiếc máy bay vận tải C-118 của Không lực Hoa Kỳ . Sáng sớm ngày 27 tháng Tư tôi bị đánh thức bởi một tiếng nổ lớn – loạt đạn rốc két đầu tiên của Cộng sản bắn vào Sài gòn rơi trúng vào Khách sạn Majestic, chỉ cách chỗ tôi ở một tòa nhà . Một đặc vụ cộng sản nằm vùng ở Không lực Việt Nam Cộng hòa, người trước đó đã ném bom vào Dinh Tổng thống, đã lái máy bay của anh ta quay lại tấn công vào sân bay Tân Sơn Nhất ngày 28 tháng Tư. Chuyến oanh tạc này và những loạt đạn rốc két, đạn pháo bắn vào sân bay đã chấm dứt cầu hàng không do người Mỹ tổ chức.
Chiến dịch Gió đổi chiều (Di tản không vận) do Hải quân Hoa kỳ mở màn lúc chiều ngày 29 tháng Tư để sơ tán những người Mỹ và người Việt bằng trực thăng và hạ màn vào buổi sáng 30 tháng Tư. Nhìn từ tầng thượng Khách sạn Caravelle, những chiến xa Bắc Việt Nam nối đuôi nhau bò như kiến trên Quốc lộ I từ đoạn Biên Hòa. Từ vị trí chiến sự đắc địa này tôi nhìn thấy rõ một chiếc trực thăng đơn thương độc mã ló ra khỏi bầu trời xám xịt và hạ cánh xuống sân đỗ xi măng trông nhỏ như bao diêm của tòa Đại sứ Mỹ . Sau vài phút, chiếc trực thăng lại cất cánh mang theo nhóm lính thủy Mỹ cuối cùng có nhiệm vụ canh gác Sứ quán. Những lon lựu đạn hỏa mù ném xuống làm bốc lên những đám khói màu hồng, xua đi những đám người Việt chen nhau hy vọng được đáp chuyến cuối cùng. Lượn một vòng gấp để tránh chiếc cột Ăng-ten của Sở Bưu điện, chiếc trực thăng bốc thẳng theo hướng Sông Sài Gòn và mất hút ở đường chân trời phía Đông. Lúc đó là 7 giờ 35 phút sáng. Hai mươi mốt năm tròn kể từ khi Đại tá tình báo CIA Edward Lansdale đặt chân đến Sài Gòn để giám sát huấn luyện cho đội quân chống Cộng của Việt Nam Cộng hòa, chuyến phiêu lưu Đông dương của Hoa kỳ đã chính thức hạ màn.
Bốn giờ sau, khi tôi ngồi một mình trong văn phòng của Reuter, một cơ quan thông tấn của Anh, đối diện với Dinh Tổng thống để thảo một bức điện mô tả cờ cộng sản đang bay rợp trời khắp vùng phụ cận Sài Gòn, tôi nghe thấy tiếng động cơ Diesel gầm gừ và tiếng xích sắt nghiến trên đường. Qua cửa sổ để ngỏ, tôi nhìn thấy một chiếc xe tăng cắm cờ Việt cộng ba màu xanh, đỏ, vàng đang trực chỉ Dinh Tổng thống. Tôi liền vớ lấy chiếc máy ảnh và chạy ra khỏi văn phòng. Khi qua đoạn công viên nằm giữa văn phòng Reuter và Dinh Tổng thống, tôi nhìn thấy chiếc xe tăng bắn chỉ thiên một loạt đạn pháo và đâm thẳng vào chiếc cổng sắt, hất cánh cổng rơi xuống đất. Lính đội mũ tai bèo, mặc quân phục rộng thùng thình và một số lính tăng còn đội nguyên mũ bảo hiểm nhẩy ra khỏi xe nhẩy tới bậc cầu thang để treo cờ Việt cộng.
Họ đã tới được điểm cuối của Đường mòn Hồ Chí Minh; chiến tranh đã kết thúc. Tôi bàng hoàng về hàng loạt sự kiện ập tới choáng ngợp, không thể tin nổi Chiến tranh Việt Nam – cuộc chiến đã theo tôi hầu hết tuổi trưởng thành – đã kết thúc rồi. Một năm trước đây, khi tôi quyết định cư trú ở Sài Gòn làm phóng viên Đông dương cho tờ Tạp chí Kinh tế Viễn Đông (Far Eastern Economic Review), tôi đã biết chắc rằng Hiệp định Hòa bình Paris-tác phẩm do Henry Kisinger và ông Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị Việt Nam soạn thảo ra đã chết yểu. Vi phạm ngừng bắn đã dẫn đến các đợt tấn công quân sự rải rác. Nhưng không ai khi đó có thể nghĩ đến sự sụp đổ [của Việt Nam Cộng hòa, ND], kể cả những nhà hoạch định chiến lược của Cộng sản ở Hà Nội. Khoảng giữa tháng Tư đã rõ hơn về thời điểm quyết định sắp đến. Theo lời khuyên khẩn khoản của Ban biên tập ở Hồng Kong, tôi đã thuyết phục được vợ tôi rời Sài gòn, nhưng tôi kiên quyết từ chối đề nghị rút khỏi Sài gòn. Người phụ trách biên tập của tôi gửi tin nhắn rằng “Không có tin nào giá trị bằng tính mạng anh.. hãy ra khỏi nơi đó nếu thấy nguy hiểm”. Trong một lá thư gửi đi Hồng Kông ngày 25 tháng Tư, tôi trả lời rằng tôi không thể rời nơi này “ mà không được chứng kiến màn cuối của vở kịch”. Chỉ năm ngày sau khi lá thư được gửi đi, tấn bi kịch đã hạ màn. Lòng tôi nặng trĩu khi chứng kiến nhiều người bạn Việt Nam của tôi ra đi, nhiều gia đình ly tán trong cuộc di tản đau đớn này. Tôi đã chứng kiến sự khốn quẫn của hàng nghìn người, để trốn tránh làn sóng thủy triều cộng sản cuồn cuộn chảy đã chạy từ bờ biển Miền Trung tới Cảng Sài gòn để rồi bị kẹt lại ở chính Sài Gòn. Dù sao cũng được một chút an ủi, đó là không có tắm máu như nhiều người đã đồn đại một cách sợ hãi. Sự chia ly dài giữa hai miền Bắc-Nam đã kết thúc theo một cách đáng làm nhiều người phải tò mò tìm hiểu tại sao Người Sài Gòn lại túm tụm xung quanh các chiến xa T54 của Bắc Việt để tán gẫu với các chàng trai bẽn lẽn trong bộ quân phục của Miền Bắc. Vẫn còn những lo ngại rồi tương lai sẽ ra sao?, nhưng trên hết là cảm giác: cuối cùng thì Việt Nam cũng được hòa bình, còn những điều khác dần dần sẽ tự hóa giải với thời gian.
Ở Campuchia, tấn bi kịch hạ màn sớm hơn 30 ngày, nhưng lại thấy thiếu sự yên ổn đó. Trong chuyến đi gần nhất của tôi tới Phnom Penh tháng 1 năm 1975, tôi đã thấy quân Khmer Đỏ xiết chặt vòng vây quanh đô thành. Dân số Phnom Penh tăng thêm khoảng gần 2 triệu người tỵ nạn. Họ đến Phnom Penh để tránh cuộc chiến, để rồi lại bị ăn đạn rốc két. Khmer Đỏ cô lập toàn bộ đường giao thông, để lại duy nhất một đường thoát huyết mạch là qua đường sông Mê-kông.
Những người Mỹ liều mạng tổ chức một cầu hàng không kiểu Berlin để vận chuyển thực phẩm và nhiên liệu, cuối cùng đành phải bỏ tất cả lại vì sân bay Pochentong cũng bị tấn công. Thống chế Lon Non cũng phải gạt nước mắt ra đi, tiếp theo đó là các nhân viên người Mỹ. Ngày 17 tháng Tư, quân đội Khmer Đỏ tiến vào Đô thành và dùng súng cưỡng bức dân ra khỏi thành phố. Hai tuần sau, những người nước ngoài rút vào trú ẩn tại Đại sứ quán Pháp bị lùa lên xe tải đưa sang Thái lan. Campuchia như một tín hiệu vô tuyến yếu ớt phát ra từ cuối đường chân trời đột nhiên im bặt.
Đúng vào lúc chiến tranh Đông dương lần thứ hai đi vào hồi kết, thì một cuộc chiến mới giữa những người đồng chí và anh em lại đang hình thành. Khi kẻ thù đế quốc chưa rời hẳn khỏi vũ đài, thì những nghi ngờ và mối thù truyền kiếp đã lại nổi lên. Những đồng chí của hôm qua bắt đầu cân nhắc lợi ích quốc gia của mình. Thực ra, ẩn đằng sau màn bí mật và đằng sau mỹ từ “tình hữu nghị cách mạng” là một bề dày của mối thù truyền kiếp vô hình. Khi đó tôi cũng không ngờ được rằng mình lại có diễm phúc được trải qua những thời khắc đáng nhớ nhất của một thập kỷ sau đó để đưa tin về cuộc xung đột vốn hình thành ngay từ khi hòa bình đang phôi thai ở Đông dương. Đối với tôi, chiêm nghiệm về thời kỳ này giống như ngắm một tấm dương bản đang ngâm trong khay nước rọi ảnh, thấy mỗi lúc hình ảnh hiện lên một rõ hơn. Hàng năm trời tôi đi lại như con thoi giữa Đông dương và Trung quốc – từ Cánh đồng chết ở Campuchia tới những ngọn đồi đẫm máu ở biên giới Việt-Trung và nói chuyện với vô số người của cả hai bên chiến tuyến. Với nỗ lực tìm kiếm từng mảnh đã thất lạc để chắp lại bức tranh ghép hình về xung đột mới này, tôi đã có hàng trăm cuộc phỏng vấn những nhà hoạch định chính sách, những quan chức của tất cả những nước lớn và các nước láng giềng của Đông dương liên quan tới tấn bi kịch này. Cuốn sách này là sản phẩm của cuộc tìm kiếm 12 năm trước của tôi.
Sự thất thủ của Sài gòn và Phnom Penh là khúc dạo đầu của những xung đột đẫm máu giữa những người Việt Nam mới chiến thắng và những người cộng sản Campuchia liên quan tới quyền kiểm soát các đảo trong Vịnh Thái lan. Pol Pot, một lãnh tụ của Khmer Đỏ công bố một kế hoạch cưỡng bức tiến nhanh tới Chủ nghĩa xã hội nhằm nhanh chóng mạnh lên để đối mặt với kẻ thù cha truyền con nối là Việt Nam. Không bao lâu, những cuộc thanh trừng nội bộ đẫm máu chống lại những phần tử chống đối bị nghi là thân Việt Nam đã trở thành những đợt tấn công trực tiếp vào những làng của người Việt và thảm sát dân thường. Đối với Khmer Đỏ đó là cuộc chiến phòng ngừa một mất một còn chống lại một kẻ thù lịch sử được cho là có vận mệnh “nuốt chửng” Campuchia. Đối với Người Việt Nam, sự thù địch của Campuchia cộng với sự hậu thuẫn của Trung Quốc là sự lặp lại của lịch sử.
Trung quốc, kẻ thù nghìn năm của Việt Nam được coi là đang tìm cách bóp nát đất nước này bằng hai gọng kìm từ phía Bắc và Tây Nam. Như những lần trước trong lịch sử hàng ngàn năm chống lại Trung quốc, Việt Nam một lần nữa lại sẵn sàng đối đầu với mối đe dọa bị tấn công, và điều đó đã xảy ra vào cuối năm 1977. Cuộc xung đột dấu mặt ở Campuchia bùng nổ công khai vào ngày đầu năm 1978, khi đài phát thanh Phnom Penh loan báo với thế giới rằng họ là nạn nhân của “Việt Nam xâm lược”. Trong vòng năm tháng, ngọn lửa tràn tới phía Bắc. Khi người thiểu số Hoa kiều ồ ạt rời Việt Nam như từng đợt sóng, thì Bắc Kinh bắt đầu vén bức màn bí mật và tố giác Hà Nội “trừng phạt” Hoa Kiều và nhằm làm “bá quyền” ở Đông Dương. Sự gia tăng quan hệ của Việt Nam với Liên Xô gợi lên cho Trung Quốc cơn ác mộng lịch sử- cùng lúc bị những “kẻ tây dương man rợ “ ở phía bắc đe doạ và đồng thời bị đe doạ từ phía Nam. Từ mùa hè năm 1978, Trung quốc đã lập kế hoạch trừng phạt Việt Nam “vong ân”, quốc gia đã từng hưởng viện trợ của Trung Quốc trong ba thập niên. Vì vậy, ngay khi mối liên minh với Khmer Đỏ bị sụp đổ hoàn toàn vì cuộc tấn công toàn diện của Việt Nam năm 1979, thì Trung quốc đã sẵn sàng thực hiện sự trừng phạt này.
Cuộc xung đột ở Đông Dương liên hệ mật thiết đến quan hệ thù địch Xô-Mỹ và quan hệ liên minh Mỹ -Trung đang phát triển. Trong khi Campuchia Dân Chủ dưới sự cai trị của Khmer Đỏ đóng cửa biên giới và dựa hoàn toàn vào Trung quốc, thì từ 1975, Hà Nội cố gắng phát triển một chính sách ngoại giao độc lập, dựa trên quan hệ cân bằng giữa hai siêu cường. Mùa hè năm 1977, Hà Nội tiến rất gần mục tiêu thiết lập được quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, nếu không khăng khăng yêu cầu viện trợ tái thiết. Một năm sau, khi xung đột với Campuchia và với Trung quốc sắp bùng nổ thành chiến tranh, thì Việt Nam càng cần thiết lập quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ và đã từ bỏ yêu cầu viện trợ tái thiết sau chiến tranh. Vào lúc đó, bánh xe số phận của thời cuộc quốc tế đã xoay chuyển. Việt Nam không hề biết rằng Trung quốc đã quyết định “dạy cho Việt Nam một bài học “ và đã tăng cường nỗ lực để thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Hoa Kỳ trước khi ra tay. Mong muốn của Bắc Kinh hoàn toàn phù hợp với mong muốn của [Tổng thống Mỹ] Jimmy Carter và cố vấn An Ninh Quốc Gia của ông ta, đó là tìm kiếm quan hệ đối tác với Trung quốc để xây dựng liên minh toàn cầu chống Liên Xô. Họ [Hoa Kỳ] quyết định xếp lại việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam và bí mật thúc đẩy việc thiết lập quan hệ với Bắc Kinh. Sau ba thập niên tham chiến ở Việt Nam chống lại sự “bành trướng của Trung Quốc”, Hoa Kỳ, rốt cục lại trở thành đồng minh im lặng trong cuộc chiến của Bắc kinh chống Việt Nam. Tháng Hai năm 1979, trong niềm hân hoan vì thắng lợi của chuyến viếng thăm Hoa Kỳ, Phó chủ tịch nước Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã ra lệnh tấn công trừng phạt Việt Nam.
Hai sự kiện Việt Nam chiếm đóng Campuchia và Trung Quốc tấn công Việt Nam đều bắt nguồn từ mối xung đột đã âm thầm gia tăng từ sau năm 1975 mà không có phương cách giải quyết. Vào đầu năm 1986, trong khi khoảng 180 ngàn quân Việt Nam còn ở lại Campuchia để chiến đấu với du kích Khmer Đỏ, thì lính Trung quốc tiếp tục nã đại pháo vào vùng biên giới phía Bắc của Việt Nam và tổ chức những đợt tấn công định kỳ bằng bộ binh vào đất của Việt Nam. Mặc dù bị đánh đuổi ra khỏi Phnom Pênh, chính phủ liên hiệp của Khmer Đỏ mang tên nước Campuchia Dân chủ vẫn được công nhận là chính phủ hợp pháp. Trong khi cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ ba còn đang tiếp diễn thì bình diện quốc tế đã thay đổi đáng kể. Nhờ vào cuộc chiến tranh Trung-Việt mà Mát-xcơ va tiếp cận được các căn cứ quân sự ở Việt Nam để để mở rộng ảnh hưởng ở Thái Bình Dương. Mối hy vọng đánh đổi sự ủng hộ của Mỹ trong cuộc chiến Trung quốc chống Việt Nam để đổi lấy một liên minh chống Liên Xô do Washington đứng đầu đã bị tan biến vì Trung quốc quay lại chính sách ngoại giao độc lập và bắt đầu các cuộc trao đổi bình thường với Liên Xô. Quay lại 180 độ, Việt Nam tuy mạnh về quân sự nhưng bị cô lập và với nền kinh tế rách nát đã bắt đầu tìm cách nối lại mối quan hệ rất khó tiên liệu với Hoa Kỳ.
Đây là câu chuyện về các cuộc chiến lịch sử ở Đông dương dưới sự ảnh hưởng của nền ngoại giao của các nước lớn. Những biến cố ở Đông Dương, từ khi chiếc trực thăng Mỹ rời khỏi sân thượng tòa đại sứ Hoa Kỳ ở Saigon chứng tỏ rõ ràng sự tiên đoán sai lầm dẫn tới sự can thiệp của Mỹ vào Việt nam. Các nhà lập kế hoạch của Hoa kỳ dự tính rằng Việt Nam là lưỡi dao sắc bén tiếp tay cho sự bành trướng của Trung Quốc ở châu Á, nhưng trên thực tế Việt Nam lại trở thành kẻ thù, nạn nhân cay đắng của Trung quốc. Khme đỏ đã từng được nhận diện là công cụ của Hà Nội thì cuối cùng lại tự bộc lộ là kẻ thù sống còn của Việt Nam. Lịch sử thập niên vừa qua được xem như một bài học khách quan: Lịch sử và Chủ nghĩa dân tộc – chứ không phải hệ tư tưởng- đã vẽ nên tương lai của khu vực mong manh này. Cho dù hiện tượng có thế nào đi nữa thì về bản chất, rất khó tìm thấy những con rối thật sự ở Đông dương.

[Hết Dẫn nhập]

1. KẺ THÙ CŨ, CUỘC CHIẾN MỚI

Sau một tháng náo động vì chiến cuộc, tháng 5/1975, Đông Dương trở lại yên tĩnh. Đã không còn bầy trực thăng bay lượn để đưa người di tản đến chỗ an toàn. Cuộc giải cứu kinh hoàng của Hạm Đội 7 và hàng trăm thuyền tỵ nạn nối nhau ra biển cũng đã qua rồi. Ít ra, người ta cho là như vậy. Nhưng buổi sáng ngày 15 tháng 5, khi ánh bình minh lặng lẽ nhô lên ở cuối chân trời màu ngọc bích đảo Koh Tang trong Vịnh Thái Lan, thì những âm thanh không thể nhầm lẫn của chiến tranh đã trở lại. Mười một chiếc trực thăng hiện ra ở đường chân trời phía tây còn chưa hửng sáng, hướng tới hòn đảo của Campuchia. Mục đích tấn công của lực lượng Hải quân Mỹ trên những phi đội trục thăng mang danh lưỡi dao khổng lồ (U.S. Air Force Jolly Green Giant and Knife Helicopters) là tàu Mayaguez, một chiếc tàu chở container cũ và hư hỏng của Mỹ bỏ neo phía ngoài khơi Đảo Koh Tang trên Vịnh Thái lan. Vào ngày 12 tháng 5, một chiến thuyền của Campuchia chở theo lính Campuchia ở độ tuổi thiếu niên mặc trang phục đen đã bắt giữ chiếc tàu này khi ở xa ngoài khơi, phía nam đảo Puolo Wai (1). Tín hiệu cấp cứu của chiếc tàu này đã nhận được phản hồi. Tổng thống Gerald Ford đã ra lệnh cho một đơn vị Trực thăng đóng ở Utapao, Thái Lan phối hợp với Thủy quân Lục chiến thuộc Hạm đội 7 tới cứu chiếc tàu Mayaguez và thủy thủ đoàn gồm 39 người. Vào lúc trước hừng đông, khi các lực lượng Mỹ tấn công vào hòn đảo nói trên, họ không hề biết rằng các thủy thủ trên tàu Mayaguez đã được chuyển đến cảng Kompong Som trên đất liền. Những người lập kế hoạch giải cứu cũng không lường được rằng họ phải đối đầu với sự kháng cự mãnh liệt của toán lính xuất thân từ nông dân với những trang bị rất thiếu thốn. Khi chiếc trực thăng Knife đầu tiên chưa kịp hạ xuống bờ biển và toán lính thuỷ quân lục chiến trang bị đầy mình bắt đầu nhảy xuống thì từ những hàng cây tối đen phía trên bỗng bùng lên nhoang nhoáng lửa súng máy và súng trường. Một phi công trực thăng kinh hoàng mô tả lại: “ cứ như là một giây đèn nhấp nháy trên cây thông Giáng Sinh” (2). Chỉ trong vòng một giờ, hai chiếc trực thăng Knife bị bắn hạ và rớt trên bờ biển. Dù chẳng có ai trong thủy thủ đoàn có mặt trên đảo để cứu, nhưng các lính Thủy Quân Lục Chiến đành phải cố cầm cự, nguy cấp tới mức chính họ cần cứu trợ để thoát khỏi hoả lực mạnh của Campuchia. Mười bốn giờ liền sau đó, máy bay từ đất liền và tàu chiến của Hạm Đội 7 đã xả bom đạn vô tội vạ vào khu vực này.
Ngạc nhiên trước sự diễu võ dương oai đó, Khmer Đỏ nhanh chóng trao trả thủy thủ đoàn. Nhưng cuộc giải cứu những lính thuỷ đánh bộ trên Đảo Koh Tang chưa kết thúc, theo lời của [Tổng thống] Ford để biện hộ cho cuộc dội bom tan hoang các cơ sở trên hòn đảo của Campuchia. Vào cuối ngày của cuộc chiến một ngày này, 15 lính thuỷ đánh bộ Mỹ tử trận, phía Khmer không đếm xiết số người bị chết. Về phía Campuchia, một trạm lọc dầu duy nhất và một phi đội máy bay nhỏ bị phá hủy. Đối với Tổng thống Ford, sự kiện Mayaguez là một cơ hội để nâng cao tinh thần nước Mỹ vốn bị chùng xuống sau sự rút lui nhục nhã khỏi Phnom Pênh và Sài Gòn. Theo lời của Ford, sự biểu thị sức mạnh Mỹ trong vụ Mayaguez là “tia lửa nhóm lên ngọn lửa tinh thần tự tin mới”. Hoa Kỳ đã phải chịu đựng một thế cục rất khó khăn và “ việc này như một hành động bản lề có tính chất thay đổi hướng đi” , ông tổng thống này đã phụ hoạ sau đó (3). Bây giờ là lúc Nước Mỹ tập trung vào hàn gắn những vết thương của nước Mỹ; đưa Đông dương vào quên lãng.
Giai thoại Mayaguez chẳng mấy chốc biến khỏi trang nhất của báo chí và chỉ có một số ít người nhận ra rằng sự kiện này chỉ là một màn phụ không có trong kế hoạch – mở đầu cho một cuộc xung đột dữ dội hơn: một cuộc chiến bị kìm nén từ lâu giữa hai nước láng giềng lâu đời. Cú đấm cuối này của quyền lực Hoa kỳ tại Đông dương giúp che đậy sự khởi đầu của một cuộc chiến mới giữa các đồng chí và anh em cũ đã một thời sát cánh chống lại Hoa Kỳ. Việc bắt giữ tàu Mayaguez diễn ra trong bối cảnh lực lượng Khmer Đỏ đã tấn công vào các hòn đảo do Việt Nam kiểm soát ở vịnh Thái lan. Những chàng lính trẻ Khmer Đỏ hùng hổ đeo tiểu liên AK-47 nhảy lên boong tàu Mayaguez thực ra chỉ muốn tỏ rõ chủ quyền kiểm soát trong vùng nước lãnh thổ mà họ mới đoạt lại được.

Cuộc chiến giành hải đảo

Theo một cách nào đó có thể cho rằng vào lúc chung cuộc thắng lợi của cuộc chiến chống xâm lược ngoại bang, thì việc người chiến thắng tìm cách củng cố quyền kiểm soát lãnh thổ được cho là chủ quyền quốc gia do cha ông để lại – là điều hiển nhiên, dễ hiểu. Tuy nhiên, trong trường hợp Campuchia và Việt Nam, quá trình này lại phơi bày mối thù hận và xung đột vốn bị che dấu từ lâu sau bộ mặt đồng chí và đoàn kết.
Vào giai đoạn Việt Nam sắp giành thắng lợi ở Miền Nam, thì một trong những hành động đầu tiên của Hà Nội là “giải phóng” các đảo Trường Sa (Spratlys Inslands) ở Biển Nam Hải ( Biển Đông – ND) do Chế độ Thiệu kiểm soát và chính thức đòi chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa (Paracel Inslands) do Trung Quốc chiếm đóng. Chỉ vài tuần lễ sau khi chiếm Phnom Pênh, các đơn vị Khmer Đỏ đã được triển khai tới bảo vệ biên giới trên bộ và trên biển của họ. Quân đội được phái tới Vịnh Thái Lan để kiểm soát các hòn đảo do chế độ cũ chiếm đóng hoặc đòi chủ quyền.
Mục đích không chỉ dừng ở lãnh thổ. Động cơ thiết lập chủ quyền về lãnh thổ của họ – Khmer Đỏ- còn nhằm giương ngọn cờ độc lập đối với những người bảo trợ họ trong các thời kỳ chiến tranh. Đã tới thời khắc thuận lợi để các nhà cách mạng Việt Nam và Campuchia theo đuổi những con đường chính trị khác nhau mà không còn bị những toan tính thời chiến ngăn cản vì mục đích bảo tồn sự nhất trí và hợp tác. Chiến tranh đã qua, Người Việt không ngần ngại khẳng định các yêu cầu chủ quyền lãnh thổ đối với Trung Quốc, và Người Campuchia cũng không ngần ngại thúc ép Việt Nam bằng các khiếu nại lãnh thổ. Cuộc đấu tranh mang tính lịch sử lâu đời giữa Trung Quốc và Việt Nam, giữa Việt Nam và Campuchia vốn tạm đóng băng dưới quyền cai trị của Thực dân Pháp và sự can thiệp của Mỹ nay đã bộc phát – lúc đầu còn che đậy, nhưng mỗi ngày một gia tăng. Khi đã tới lúc có thể chính thức công khai các đòi hỏi về chủ quyền thì không một chính quyền cộng sản nào lại sẵn sàng đương đầu với một cuộc chiến toàn diện. Những nhu cầu cấp thiết về củng cố quyền lực nội địa và giải quyết các hậu quả chiến tranh buộc họ phải cân nhắc. Còn đối với Trung Quốc- một nhân tố chính nữa của cuộc chiến mới, thì trong bối cảnh hai lãnh tụ hàng đầu là Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đang hấp hối trên giường bệnh, và do quá hăng hái trong cuộc thanh trừng tư tưởng nội bộ nên khó tập trung toàn ý vào các vấn đề mới nổi lên ở biên giới phía Nam [giáp Trung Quốc]. Sự bận rộn với những vấn đề nội trị và chọn người lãnh đạo [ở Trung Quốc] đã dẫn đến cuộc tạm ngưng, nhưng nỗi lo sợ hằn sâu trong tiềm thức của họ, những tham vọng đối với nhau và lối tư duy trái ngược của các chính sách đối nội và đối ngoại chẳng bao lâu nữa sẽ [là những căn nguyên] đặt Campuchia và Trung Quốc vào cuộc đối đầu với Việt Nam.
Ngày 12 tháng Tư năm 1975, năm ngày trước khi đội quân chiến thắng tiến vào Thủ đô Phnom Penh, một trong số những lãnh tụ Khmer Đỏ là Ieng Sary, đang ở Quảng Trị, miền nam Việt Nam. Dáng to con, đôi mắt nhỏ trên khuôn mặt tròn mềm mại, Sary sinh trưởng trong một gia đình “Khmer Krom”- một sắc tộc thiểu số ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Trong thập niên 1950, khi du học ở Paris, Sary đã theo chủ nghĩa Mác và cùng những sinh viên Khmer khác trong đó có Pol Pot thành lập một chi bộ Cộng Sản Campuchia. Sau này, Ieng Sary trở thành người có quyền lực thứ hai trong cấp bậc lãnh đạo cao nhất của Khmer Đỏ, mệnh danh là “người anh thứ hai” đáng sợ. Trong một cuộc phỏng vấn năm 1980, Sary kể lại với tôi rằng [khi đó] ông ta đang trên đường từ Bắc Kinh về vùng giải phóng của Campuchia qua khu vực mới được giải phóng của Miền Nam Việt Nam thì nhận được điện tín của Hà Nội cho biết Hoa kỳ rút khỏi Campuchia. Ieng Sary không lạ lẫm gì các chuyến đi dọc đường mòn Hồ Chí Minh, băng qua những con suối chảy xiết của tỉnh Rattanakiri của Campuchia. Ông ta đã sống ở Hà Nội vài năm trong thời kỳ chiến tranh và đã từng đi lại nhiều lần trên con đường hiểm trở giữa Hà Nội và Campuchia. Tin Phnom Pênh sắp vào tay Khmer Đỏ như một ánh chớp chấm dứt vỏ bọc sống gian khổ vì sự nghiệp của cách mạng Campuchia vốn hữu dụng một thời. Thay vì tiếp tục ngồi trên chiếc xe Jeep xóc ê ẩm xương cốt qua vùng rừng núi An nam xuyên sang Campuchia, Sary đã quyết định bay ngược về Hà Nội và sang Bắc Kinh. Ông ta đến Phnom Pênh vào ngày 24 tháng Tư, trên chiếc Boeing 707 của Trung Quốc, chuyến bay đầu tiên từ ngoại quốc hạ cánh xuống Campuchia mới, chấm dứt thời kỳ của Đường mòn Hồ Chí Minh.
Điều Sary không nói với tôi trong cuộc phỏng vấn là trong thời gian ngắn lưu lại Bắc Kinh, ông ta đã thảo luận với các nhà lãnh đạo Trung Quốc về việc xây dựng lực lượng quân đội Campuchia. Ông ta đã đề nghị nước chủ nhà dừng chuyển vũ khí và quân nhu qua trung gian Việt Nam. Vài tuần sau, tàu biển Trung Quốc chở theo gạo, nhiên liệu, và hàng hóa tiêu dùng đã cập cảng Kompong Som.
Nhưng, trước khi tàu biển Trung Quốc cặp bến, biểu hiện kết thúc sự cô lập của Campuchia cách mạng, Khmer Đỏ đã thách thức quyền kiểm soát của Việt Nam đối với những hòn đảo trong Vịnh Thái Lan. Để nhắc lại việc đòi đảo Phú Quốc (tiếng Khmer là Koh Tral), Khmer Đỏ đã tấn công hòn đảo này hôm 4 tháng 5. Sáu ngày sau, Khmer Đỏ đưa quân đổ bộ lên đảo Thổ Chu (Poulo Panjang – tiếng Khmer là Krachak Ses) và bắt đi năm trăm người dân Việt Nam cư ngụ trên đảo; sau này không còn nghe tin tức gì về những người này. Nguyễn Văn Tốt, một quân nhân chế độ Việt Nam Cộng hòa có mặt ở Rạch Giá lúc cuộc chiến xảy ra đã mất hết toàn bộ gia đình gồm 12 người. Bốn tháng sau, anh ta trở lại Thổ Chu thì căn nhà của gia đình đã thành một đống đổ nát; khắp nơi trên đảo đầy sọ người. Hai tuần sau khi Khmer Đỏ đổ bộ lên Đảo Thổ Chu, Việt Nam phản kích, giết nhiều lính Khmer Đỏ và bắt giữ khoảng 300 tù binh (4).
Ieng Sary nói với một nhóm người Mỹ thân hữu rằng việc bắt giữ tàu Mayaguez hôm 12 tháng 5 là hành động của viên chỉ huy địa phương, không được Phnom Pênh phê chuẩn (5). Cũng có thể các viên chỉ huy địa phương do quá ghen tức đã thực hiện quá mức chỉ thị bảo vệ lãnh thổ Campuchia đến mức tấn công các hòn đảo Việt Nam. Tuy nhiên, khả năng nhiều hơn là do quyết định của cấp cao. Có lẽ những lãnh tụ Khmer Đỏ nghĩ rằng sự chiếm đóng thực tế là lập luận mạnh nhất trong bất cứ tranh chấp lãnh thổ nào. Người Khmer chưa từng bị thuyết phục bởi việc mất các đảo này vào tay chính quyền Nam kỳ thuộc Pháp và sau này vào tay quốc gia kế thừa là Việt Nam Cộng hòa. Năm 1960 Hoàng thân Norodom Sihanouk sau này là quốc trưởng Campuchia đã cố gắng qua con đường ngoại giao để đòi lại Phú Quốc từ tay Việt Nam Cộng hòa. Sihanouk đã từng cảnh báo “việc mất các đảo và vùng nước lãnh thổ quanh các đảo này sẽ dẫn tới ngừng trệ hải cảng [Kompong Som]… và chẳng mấy chốc sẽ chấm dứt nền độc lập của chúng tôi”. (6)
Giờ đây, lợi dụng lộn xộn lúc Sài gòn thất thủ, Khmer Đỏ chắc đã nghĩ rằng thời cơ đủ chín mùi để chiếm ưu thế đòi lại đảo này thông qua thủ đắc thực tế. Pol Pot, cậu sinh viên ngành điện ở Paris bị hỏng thi, một tín đồ cuồng tín của Chủ nghĩa Mác, và sau này là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Campuchia (CPK) từ đầu thập niên 1960, vào lúc đó đã có đất để thực hiện các ý tưởng cực đoan và bộc lộ lòng thù ghét sâu sắc đối với Việt Nam, kẻ thù truyền kiếp. Ngay sau khi chiếm Phnom Pênh, Pol Pot tức khắc ban hành một chỉ thị gồm tám điểm; trong đó có hai điểm chỉ đạo rằng cần đuổi toàn bộ người thiểu số gốc Việt ra khỏi Campuchia và triển khai quân tới các tuyến biên giới, nhất là biên giới với Việt nam. (7). Sau khi chứng kiến phản ứng cứng rắn của Việt Nam, chắc hẳn Pol Pot đã cân nhắc lại tính sáng suốt của quyết định quá vội vàng này. Ngày 2 tháng 6, lúc Nguyễn Văn Linh, Ủy viên Bộ chính trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam đi đường bộ sang Phnom Pênh để thảo luận vấn đề này, Pol Pot đã tỏ ra nhận lỗi. Bằng một điệu bộ tỏ ra hối lỗi chân thành, Pol Pot đã thừa nhận với Linh là có hành động xâm lấn, nhưng “những va chạm đổ máu, đau lòng” là do binh lính “không biết về địa lý địa phương”.
Lê Duẩn đi Phnom Pênh

Rõ ràng Việt Nam không tin vào lời giải thích đó. Một mặt nói rằng [Việt Nam] hoan nghênh Pol Pot tới thăm Hà Nội, họ lặng lẽ điều quân tổ chức một trận đánh hợp đồng binh chủng không quân và hải quân tấn công vào Đảo Poulo Wai của Campuchia. Khi Pol Pot được Ieng Sary – Phó Tổng bí thư đảng, Nuon Chea và một số viên chức khác tháp tùng đến Hà Nội ngày 12 tháng Sáu trong một cuộc “viếng thăm anh em” thì Việt Nam đã đánh bại quân Campuchia trên đảo Poulo Wai và cắm cờ trên đảo này. Ngày 14 tháng 6, tờ New York Times trích dẫn một nguồn tin tình báo Mỹ cho hay Việt Nam đã chiếm đảo này. Tuy nhiên việc phái đoàn Pol Pot tới thăm Hà Nội đúng vào thời điểm trớ trêu ấy vẫn bị dấu kín suốt gần ba năm sau.
Vài năm sau, Ieng Sary cho tôi hay rằng trong suốt cuộc viếng thăm [Hà Nội Tháng 6] , phía Campuchia cố gắng một cách vô vọng nêu vấn đề tranh chấp biên giới ra thảo luận với Việt Nam. Phía Campuchia, ông ta nói, muốn giải quyết căn cứ vào Tuyên bố năm 1967 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (DRV) công nhận “ đường biên giới hiện tại” của Campuchia, nhưng phía Việt Nam từ chối thảo luận vấn đề này. Theo một giải thích sau này của Việt Nam, mặc dù phía Campuchia muốn ký một hiệp định hữu nghị bao gồm các vấn đề như thương mại, lãnh sự và hoạch định đường biên giới, nhưng họ lại đề nghị không đàm phán ngay về vấn đề biên giới. Có thể lúc đó, những người Khmer đề xuất ký một hiệp định hữu nghị với ý tưởng nhằm xoa dịu người Việt Nam chính thức chấp nhận đường biên giới của Campuchia. Ý tưởng này chẳng bao giờ được nêu ra nữa. (8)
Ngày 2 tháng Tám, Lê Duẩn, Tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị Phạm Hùng và Xuân Thuỷ- cựu đàm phán viên Việt Nam tại Hội nghị Paris đã bay tới Phnom Pênh trong một chuyến viếng thăm ngắn. Sau khi đã cho phía Campuchia nếm mùi quân sự, bây giờ, các nhà lãnh đạo Việt Nam tỏ ra uyển chuyển hơn. Lê Duẩn, 67 tuổi, dong dỏng cao, vẻ mặt ảm đạm, nguyên đảng viên sáng lập Đảng Cộng sản Đông dương; trước khi giữ chức bí thư Đảng Việt Nam vào năm 1960, ông đã từng ngồi tù khoảng chục năm và nhiều năm lãnh đạo cách mạng ở Miền Nam Việt Nam. Khác với cộng sự của ông ta là Phạm Hùng, một người miền Nam trông oai vệ, có một thời gian dài phụ trách lãnh đạo cuộc kháng chiến ở Miền Nam Việt Nam và đã từng quan hệ với các lãnh tụ Khmer Đỏ qua biên giới, Duẩn đến Campuchia lần đầu tiên. Mục đích của chuyến đi này rõ ràng không phải là để du lịch. Những vị khách Việt Nam không hề được dẫn ra ngoài Phnom Pênh – lúc đó đã là một thành phố ma sau vụ xua đuổi tàn bạo toàn bộ dân chúng ra khỏi thủ đô hồi tháng Tư. Hơn nữa, phía Campuchia đề nghị hạn chế tối thiểu đưa tin và báo cáo về cuộc viếng thăm (9). Mặc dù được tiếp đón ở mức rất lạnh nhạt, nhưng Duẩn vẫn tỏ thái độ muốn hòa giải. Ông ta thừa nhận rằng đảo Poulo Wai là lãnh thổ của Campuchia và hứa sẽ sớm trả lại. Một bản thông cáo chung được ký kết với nội dung cam kết giải quyết các khác biệt một cách hòa bình, nhưng văn kiện này không hề được công bố. Cũng không có chiêu đãi hoặc diễn văn nào cả. Chí có một bản tường trình ngắn gọn được phát trên đài phát thanh Hà Nội và Phnom Pênh vào ngày 3 tháng Tám loan báo rằng “ đã có những cuộc trao đổi chân thành giữa hai phái đoàn Việt Nam và Campuchia trong bầu không khí anh em về các vấn đề hai bên quan tâm. Đã đạt được sự nhất trí quan điểm đối với các vấn đề được nêu ra”. (10)
Mặc dù giả vờ thành thực, nhưng bầu không khí đã được cải thiện hơn chút ít, khi đảo Wai được trả lại cho Campuchia. Ngày 10 tháng Tám, Nguyễn Văn Linh gặp Nuon Chia, một trong số những lãnh đạo đảng cao nhất của Khmer Đỏ, để thông báo rằng quân đội Việt Nam đã rút khỏi đảo Wai. Nuon Chea cám ơn Việt Nam về quyết định này và nói rằng mọi sự là do “không nhận thức được về vấn đề biên giới”. (11) Đúng ra là sự nhận thức quá mức đối với vấn đề biên giới và chủ nghĩa dân tộc quá khích của hai bên đã dẫn tới những cuộc xung đột đẫm máu sau ngày chiến thắng.
Không bên nào sẵn sàng đẩy cuộc chiến tới cùng. Người Việt Nam đặc biệt cẩn trọng giữ kín cuộc xung đột này trước các con mắt của công chúng. Trong khi cố gắng giải quyết vấn đề bằng cả vũ lực lẫn ngoại giao, Hà Nội vẫn quyết tâm duy trì vẻ bề ngoài quan hệ hữu nghị quân sự với Phnom Penh. Hồi tháng Bảy, sau hai tháng rưỡi có mặt tại “Sài gòn giải phóng”, tôi bay ra Hà Nội trên đường rời Việt Nam. Trong cuộc phỏng vấn với Hoàng Tùng Tổng biên tập Báo Nhân dân, tờ nhật báo của đảng, tôi có hỏi về quan hệ giữa Việt Nam và Campuchia. “Bình thường” là câu trả lời ngay lập tức của ông và sau một đoạn dừng, ông thêm: “nói chung là bình thường.” Ông ta phủ nhận tin báo chí phương tây về xung đột giữa Campuchia và Việt Nam ở Vịnh Thái lan.
Vào thời điểm tôi ngồi tiếp chuyện Tùng trong văn phòng mờ ánh đèn của ông trông xuống Hồ Hoàn kiếm ở Hà Nội, thì hàng ngàn người Việt Nam, đàn ông, đàn bà, trẻ con bị xua đuổi ra khỏi Campuchia, tràn xuống vùng đồng bằng sông Cửu long của Miền Nam Việt Nam. Sau khi qua biên giới, các đơn vị quân đội Việt Nam hộ tống họ tới các lán tỵ nạn do chính phủ lập nên. Hàng vài trăm người Campuchia tỵ nạn gốc Việt và Hoa phải tá túc tại một ngôi chùa ở Chợ Lớn. Phái viên hãng AFP tại Sài gòn Charles Antoine De Nerciat phát choáng khi nhìn thấy những người di tản từ đất nước Campuchia cách mạng anh em đang tá túc tại Sài gòn giải phóng. May là nhờ cơ quan kiểm duyệt Việt Nam nghiêm ngặt nên chuyến điện thư ngày 12 tháng Sáu của ông không hề được chuyển đi. Thật trớ trêu, tin đó lại trùng vào ngày Pol Pot tới Hà Nội trong chuyến viếng thăm không được công bố. Cho dù các tay kiểm duyệt Việt Nam lúc đó có biết về chuyến viếng thăm ấy hay không, thì người Việt Nam cũng không hề muốn để cho đám báo chí tư sản mô tả những câu chuyện bi thương của những người tỵ nạn, hơn nữa lại làm phức tạp thêm mối quan hệ Việt Nam – Campuchia. Mãi cho tới năm 1978, thì toàn bộ câu chuyện mới hiện lên dần dần. Trong chuyến viếng thăm các tỉnh biên giới Việt Nam hồi tháng 3 năm 1978, tôi mới được biết trong suốt năm tháng đầu sau “giải phóng” Phnom Penh, hơn 150 ngàn người Việt Nam khốn khổ chạy về các tỉnh Đồng Tháp, An Giang và Tây Ninh như thế nào. Người Việt Nam thì được phép định cư tại chỗ, nhưng những người tỵ nạn gốc Hoa và gốc Khmer thì thì bị buộc phải trở lại Campuchia.
Sở dĩ Việt Nam cần phải đề phòng Campuchia vì biết rằng Phom Penh có một người bạn rất có thế lực. Sau Hà Nội, nơi dừng chân tiếp theo trong chuyến vi hành của Pol Pot là Bắc Kinh. Ngày 21 tháng Sáu, Pol Pot được Mao, người thầy tư tưởng nghênh tiếp như một anh hùng: “ đồng chí đã thắng ngay từ đòn đầu tiên, còn chúng tôi chịu thua quần chúng.” Mao nói với người đệ tử sáng láng của ông. Trong lúc Mao nói, thì hàng trăm ngàn công dân Campuchia bị xua đổi một cách tàn bạo ra khỏi các trung tâm thành phố tới các miền hoang dã khắp đất nước… sống cuộc đời nông nô.
Mao hoàn toàn ủng hộ kế hoạch cách mạng của Pol Pot đối với Campuchia và chính sách chèo lái tách khỏi Việt Nam. Cuộc hội kiến này không được đưa tin trong suốt hai năm sau đó, cho tới khi Pol Pot lột bỏ cái áo ngụy trang vô danh, đảm nhận vai trò Tổng bí thư ảng. Dĩ nhiên, những người Việt Nam hoàn toàn ý thức được sự ngưỡng mộ sâu sắc mà Mao dành cho Khmer Đỏ. Năm 1975, Mao đã từng khuyên các nhà lãnh đạo Việt Nam “phải học tập ở Campuchia cách tiến hành cuộc cách mạng.” (13)
Tình hữu nghị giữa Trung Quốc của Mao và nước Campuchia Dân chủ dựa trên hệ tư tưởng, và quan trọng hơn, dựa trên sự đồng nhất về lợi ích quốc gia. Nhóm Pol Pot không chỉ vô cùng ngưỡng mộ lý thuyết của Mao về đấu tranh giai cấp và cách mạng không ngừng, mà còn chia sẻ nỗi lo sợ và khinh ghét Liên Xô. Khi tư tưởng chống lại sự đô hộ của Việt Nam ở bán đảo Đông dương trở thành nỗi lo ngại chính của nhóm Pol Pot, thì tự nhiên họ trở thành đồng minh chủ chốt của Trung hoa trong chiến lược truyền đời ngăn chặn sự trỗi dậy của một thế lực mạnh nổi lên ở biên giới phía Nam Trung hoa.
Chẳng có gì ngạc nhiên, vào tháng Tám năm 1975, khi Chu [Ân Lai] đang nằm liệt giường, sức khỏe rất suy yếu, không còn sống bao lâu, phân trần với Lê Thanh Nghị, phụ trách kế hoạch của Việt Nam rằng Trung Quốc không có khả năng giúp đỡ Việt Nam nữa, thì Bắc kinh lại nồng nhiệt nghênh đón Phó thủ tướng Campuchia Khiêu Samphan và Ieng Sary, hứa viện trợ một tỉ USD trong năm năm, trong đó có khoảng 20 triệu viện trợ không hoàn lại.

Vào lúc chuyến viếng thăm Trung Quốc thành công của Khiêu Samphan và Ieng Sary và lời hứa hỗ trợ kinh tế biểu thị công khai sự ủng hộ tuyệt đối của Trung hoa đối với Campuchia, thì những cuộc thảo luận bí mật về viện trợ vũ khí đã bắt đầu từ hồi tháng Sáu, khi Pol Pot lặng lẽ đến Trung quốc. Trong tháng Tám và tháng Mười, các nhóm chuyên gia từ Bộ quốc phòng Trung Quốc đã đến Campuchia tiến hành khảo sát ráo riết để đánh giá các nhu cầu quốc phòng và ngày 12 Tháng 10, một dự thảo viện trợ [quân sự] đã được gửi sang Phnom Penh để phê chuẩn.

Ngày 6 tháng Hai năm 1976, vào ngày tòa đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội đưa ra lời than phiền chính thức đầu tiên về việc [Hà Nội] cưỡng bức Hoa kiều ở Miền nam Việt Nam nhập quốc tịch, một quan chức quân sự cấp cao của Trung quốc đã bí mật thăm Phnom Pênh để kết thúc thỏa ước viện trợ quân sự. Wang Shangrong, Phó Tổng tham mưu trưởng quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA), nói với Bộ trưởng Quốc phòng Campuchia Dân chủ Son Sen về quyết định của Trung Quốc ưu tiên cung cấp các trang thiết bị pháo binh, tàu tuần tiễu và các trang thiết bị phòng không cho Campuchia. Tổng cộng có 500 cố vấn Trung Quốc sang Campuchia để huấn luyện sử dụng vũ khí. Wang cũng ấn định hạn chuyển giao các hệ thống vũ khí, khí cụ cho Campuchia trong hai năm 1977 và 1978. Ngày 10 tháng Hai, Wang và Son Sen cùng ký Hiệp định viện trợ quân sự không hoàn lại cho Campuchia. (14)

Trong khi cố gắng giữ bí mật hợp tác quân sự với Campuchia để khỏi làm cho Thái Lan và Việt Nam lo ngại, động cơ ban đầu của Trung Quốc giúp Campuchia là hỗ trợ mong muốn chính đáng của Campuchia nâng cấp quân đội từ lực lượng du kích thành một đội quân thường trực, trang bị vũ khí mới, đủ sức phòng vệ đất nước. Mặc dù Bắc Kinh thừa biết không thể bù lại cán cân mất thăng bằng nghiêm trọng giữa lực lượng quân đội Campuchia nghèo nàn và lực lượng quân sự Việt Nam đã lớn mạnh, có bộ máy chiến tranh được trang bị hoàn hảo, lại thừa hưởng một số lượng vũ khí trị giá 5 tỉ đôla từ quân đội Miền Nam Việt Nam trước đây, họ cũng chẳng có đủ công cụ lẫn mong muốn đẩy quân Khmer Đỏ đối đầu quân sự với Việt Nam. Trung Hoa của Mao chỉ muốn Campuchia đủ mạnh để không bị Việt Nam bắt nạt mà thôi.

Viện trợ vũ khí của Trung Quốc cho Campuchia được dấu kín, tuy nhiên thông điệp hỗ trợ của Trung Quốc đối với Campuchia lại được quảng bá một cách ồn ào. Ngày 17 tháng Tư năm 1976, Bắc Kinh tổ chức rầm rộ lễ kỷ niệm một năm “giải phóng” Campuchia. Trong một bức điện văn chung gửi Pol Pot nhân dịp này, Mao, Chu Đức (Zhu De) và Hoa Quốc Phong ca ngợi Pol Pot đã quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, và đã mang lại “ những chuyển biến cách mạng sâu sắc”. Tuy không nói rõ nước nào đe doạ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia, nhưng Hà Nội chắc hẳn cũng không bỏ qua ý nghĩa đe doạ của thông điệp này. Các nhà lãnh đạo (Trung Quốc) đảm bảo với Pol Pot rằng nhân dân Trung Quốc sẽ “vai kề vai hành quân tiến bước” với nhân dân Campuchia. (15)

Vào dịp Xuân năm 1976, Campuchia nổi lên thành yếu tố chính trong quan hệ căng thẳng giữa Việt Nam và Trung Quốc, tuy nhiên quan hệ giữa hai nước vốn đã bắt đầu xấu đi một cách lặng lẽ từ những năm trước. Từ khi Hà Nội giải phóng Miền Nam, lại thêm những nhân tố mới kích thích làm gia tăng những khác biệt về chính trị và chiến lược giữa hai nước.

Tiến gấp tới Trường Sa

Trong vẻn vẹn chưa đủ ba tuần lễ trước khi cờ cộng sản tung bay trên thành phố Sài gòn, sau này là Thành phố Hồ Chí Minh (* Tôi xin gọi thành phố này với tên Sài Gòn đối với những sự kiện trước 30/4/1975. TG), Hải quân Việt Nam đã chiếm các quần đảo thuộc Trường Sa, trước kia do quân đội Sài gòn chiếm đóng. Hà Nội đã nhìn trước tình thế bỡ ngỡ lúc giao thời khi tiếp quản Miền Nam và không muốn để Bắc Kinh có cơ hội chiếm các hòn đảo hai bên đang tranh chấp. Ngày 5 tháng Năm, đài phát thanh Hà Nội loan báo rằng sau ngày 11 tháng Tư, “quân giải phóng và hải quân” đã “giải phóng” hoàn toàn sáu hòn đảo trong quần đảo Trường Sa. Hai ngày sau đó, tờ nhật báo Sài Gòn Giải phóng đã đăng tải một bản đồ màu cho thấy không chỉ các hòn đảo thuộc Trường sa mà cả phần quần đảo Hoàng Sa hiện do Trung Quốc chiếm đóng đều thuộc lãnh thổ Việt Nam.
Bắc Kinh vẫn câm như đá tảng về sự kiện này. Vài năm sau, tôi mới biết được khi đó người Trung quốc có cảm giác như thế nào. “Khi chúng tôi sắp rời Hà Nội để thăm vùng miền nam Việt Nam mới được giải phóng, chúng tôi nghe thấy tin chiếm đóng các đảo Nansha (Trường Sa). Miệng tôi đắng như ngậm phải tro”, Ling Dequan một phóng viên Tân Hoa xã nói với tôi. Ling đã làm việc vài năm tại văn phòng Tân Hoa xã ở Hà Nội và tham gia nhóm phóng viên Cộng sản thường trú tại Hà Nội tham gia khảo sát thực tế lần đầu tiên ở Miền Nam vào tháng Năm, năm 1975. Anh ta nói rằng tin Việt Nam chiếm quần đảo này đến như một cú sốc, vì trước đó, Việt Nam đã từng công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo Trường Sa. Ling có vẻ đã hơi bi kịch hoá sự kiện này. Thực ra, những người Bắc Việt Nam trước đó chưa chính thức đặt vấn đề tranh cãi về khiếu nại chủ quyền của Trung Quốc đối với quần đảo này [Trường Sa], Hà Nội đã từng đưa ra những phát biểu đánh động về quyền bảo lưu đối với tranh cãi chủ quyền này. Tháng Sáu 1974, Hoàng Tùng nói với một phóng viên Thái Lan: “Đông Nam Á là của nhân dân Đông Nam Á… Trung Quốc không phải là một quốc gia Đông Nam Á, vì vậy Trung Quốc không nên có những khiếu nại về vùng nước lãnh thổ rộng lớn này.” (16)
Khi Tùng đưa ra lời tuyên bố bày, lúc đó Hà Nội chưa ngờ rằng sẽ chiếm được Miền Nam một cánh nhanh như vậy. Nhưng, khi quân đội Thiệu bắt đầu tan tác, Hà Nội không thể đứng yên nhìn Trung quốc chiếm đóng Trường Sa như cách họ đã chiếm Hoàng Sa năm trước.
Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên biển Nam Hải (Biển Đông, ND) bao gồm 150 doi đất, san hô và dải cát. Những ngư dân Việt Nam, Trung Quốc và Philippines từ hàng thế kỷ trước đã biết tới vùng này để khai thác phân chim và tổ chim yến, một món đặc sản quý của người Trung Quốc. Những hòn đảo này lại trở nên thêm giá trị vào đầu những năm 70, khi việc tìm kiếm dầu hỏa ngoài khơi bắt đầu nhộn nhịp trong vùng Đông Nam Á. Vấn đề chủ quyền đối với các hòn đảo này càng thêm phức tạp khi Trung Quốc tuyên bố chủ quyền đối với tất cả những hòn đảo này dựa trên chứng cứ khảo cổ học và chứng cớ về việc người Trung quốc đã thỉnh thoảng lui tới những hòn đảo này. Trung quốc, Việt Nam hoặc Philippin, không một nước nào duy trì sự chiếm đóng lâu dài trên những hòn đảo đó. Cho đến cuối thập niên 1950, chính quyền Nam Việt Nam không ra mặt chống lại đòi hỏi chủ quyền của Trung Quốc đối với các quần đảo này; Bắc Việt Nam- đồng minh tư tưởng và là nước nhận viện trợ của Trung quốc – cho rằng cách khôn ngoan nhất là chấp nhận quyền của Trung quốc. Nhưng sau năm 1959, khi Sài Gòn và Bắc Kinh xảy ra vụ tranh chấp đầu tiên về các hòn đảo thuộc Trường sa và Hoàng Sa , Hà Nội đã luôn tìm cách tránh ủng hộ Trung Quốc bằng cách im lặng về vấn đề này.

Hành động chiến tranh đầu tiên
→ còn nữa
——-
Phần chú thích đến hết trang 20
Chương 1
(1). Roy Rowan, Bốn ngày của vụ Mayaguez (New York, Norton, 1975), 38-48
(2). Không lực Việt Nam, 1951-1975: Phân tích vai trò trong chiến đấu và 14 giờ tại Koh Tang, Loạt bài của South East Asia Monograph, Tập 3, Wasshington D.C. USAF, 1981, tr. 106
(3). Rowan, Bốn ngày.., 223
(4). Biên bản ghi chép của một nhân viên ngoại giao Úc đã phỏng vấn Tốt tại Malaysia 5/4/1979
(5). Michael Chinoy, Nhìn gần vụ Mayaguez, tạp chí FEER, 30/5/1975, tr 18
(6). R.M. Smith, Chính sách Ngoại giao Campuchia (Ithaca, N.Y, Cornell University Press, 1965, tr 159
(7) Ben Kiernan, Cách mạng và những gì xảy ra sau đó ở Campuchia, Yale University Southeast Áia Studies, 1983, tr. 178
(8) Kampuchea Dosier, tập 1, VC, Hanoi, 1979, 127


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

ChiDzung

Tin Dong Nam A

Opinion

Just another WordPress.com weblog

Tin Dong Nam A

Trustbuilding's Blog

Just another WordPress.com site

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.