Home » Asean » Anh em Thù địch- Cuộc chiến mới (25-39 bản đọc thử)

Anh em Thù địch- Cuộc chiến mới (25-39 bản đọc thử)

LƯU TRỮ

Chủ đề

Lịch

September 2012
M T W T F S S
« Aug   Oct »
 12
3456789
10111213141516
17181920212223
24252627282930

( Tiếp) Anh em thù địch. Nayan Chanda. Dịch: Nguyễn Chí Dũng. Xem các phần trước Tr.1-25

….            Một Trung Quốc đầy lo âu đã quyết định chọn dịp Quốc khánh lần thứ 30 của Bắc Việt Nam để trực tiếp bày tỏ lo ngại tới các nhà lãnh đạo của Việt Nam. Họ cử Uỷ viên Bộ Chính trị, tướng Trần Tích Liên (Chen Xilian) tham dự buổi lễ Quốc khánh tại Hà Nội. Trần với vóc người to lớn, đang giữ chức Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh, chính là người đích thân chỉ huy cánh quân Trung Quốc trong cuộc chiến biên giới năm 1969 với Liên Xô. Trần được  chọn giao nhiệm vụ cảnh báo Hà Nội về những nguy cơ Liên Xô có thể gây ra ở Châu Á. Phát biểu trong một buổi lễ tại Nhà máy gang thép Thái Nguyên do Trung Quốc giúp xây dựng, bị bom Mỹ phá huỷ trong chiến tranh, nay cũng do Trung Quốc giúp khôi phục, Trần thuyết giảng về cuộc đấu tranh “chống bá quyền” (cách nói của Trung Quốc ám chỉ chống Liên Xô). Ông ta cảnh báo rằng “siêu cường âm mưu nhằm mục tiêu bá quyền” – có nghĩa là Liên Xô tìm cách lấp chỗ trống quyền lực – “đang ngày càng lộ rõ và các yếu tố dẫn tới chiến tranh đang tăng lên”. Đến Hà Nội ngày 31 tháng Tám, Trần được Thủ tướng Phạm Văn Đồng lên tận cầu thang máy bay ôm hô thắm thiết theo nghi lễ thể hiện tình đoàn kết anh em cùng chiến hào thời đó. Nhưng báo chí Hà Nội không vì nể nang mà làm lu mờ tính độc lập chính trị của mình. Họ lược bỏ trong các bản tin những điều Trần  nhắc tới bá quyền. Không bỏ lỡ cơ hội đập lại Bắc Kinh, Đài phát thanh Mat-x-cơ-va đã gọi cách hành xử của Trần là “ hành động thiếu văn minh thể hiện rõ ý đồ chính trị nhằm khiêu khích”. Bản tin đó nói rằng “Nhân dân Việt Nam biết phân biệt bạn và thù”, và họ ý thức được “sự giúp đỡ vô giá và vô tư của Mat-x-cơ-va.” [23]

Sự đấu khẩu công khai giữa Mátxcơva và Bắc Kinh về lòng trung thành của Hà Nội chẳng đem lại điều tốt lành cho chủ trương của Việt Nam muốn chèo lái tránh các cơn cãi vã của các bậc đàn anh để tiếp tục được họ giúp. Ngày 22 tháng Chín, Lê Duẩn và Lê Thanh Nghị đi Bắc Kinh để cảm ơn và tiếp tục xin viện trợ. Dịp này rõ ràng thử thách tài khéo léo của Việt Nam. Một ngày trước khi lên đường, các nhà lãnh đạo Việt Nam nhận được một báo cáo từ Bắc Kinh dự đoán các nhà lãnh đạo Bắc Kinh muốn nghe những điều gì từ Lê Duẩn. Cựu thủ tướng Anh Edward Heath nói với báo chí sau cuộc hội kiến Mao và Đặng (Tiểu Bình) rằng Mát-xcơ-va đang mong có được các căn cứ quân sự ở Việt Nam; nhưng theo những gì ông ta cảm nhận được thì Trung Quốc cho rằng về lâu dài, Liên xô không thể thành công trong việc duy trì ảnh hưởng lâu bền ở Việt Nam, và cũng không thể thu xếp nổi việc thiết lập căn cứ quân sự ở đây. Qua ông Heath, Trung Quốc đã gửi những tín hiệu rõ mồn một tới Hà Nội. Bây giờ, chỉ còn trông mong vào Lê Duẩn có thể trấn an cảm giác lạc quan của TQ tới mức nào thôi.

Chẳng có thì giờ để tiệc tùng

       Việc nghênh tiếp Lê Duẩn mặc dù không được hoành tráng như lần đón Khiêu Samphan và Ieng Sary tại Bắc Kinh một tháng trước đó nhưng cũng nồng ấm. Sau khi Đặng Tiểu Bình và một số lãnh tụ cao cấp ra đón tại cầu thang máy bay, Duẩn vinh dự được duyệt đội nghi lễ của quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và được chào đón bằng một màn múa và tặng hoa của các thiếu nhi. Đặng, 71 tuổi, người một thời bị Hồng Vệ Binh lăng mạ là “tên đầu sỏ” đi theo chủ nghĩa tư bản và phải chịu bốn năm quét dọn phòng họp, đã  được Chu Ân Lai phục hồi vào năm 1973. Đón Lê Duẩn lần này có thể là lần xuất hiện công khai cuối cùng của Đặng trước khi sự nghiệp chính trị của ông ta lại chìm xuống một lần nữa. Quảng trường Thiên An Môn ở Bắc Kinh treo đầy đèn đỏ và vàng, cờ và biểu ngữ hoan hô tình hữu nghị. Tuy nhiên, bầu không khí bỗng nguội đi đi khi Đặng chuyển làn từ bài diễn văn trong bữa tiệc chào mừng thành bài giảng về “chủ nghĩa bá quyền” xấu xa. Nể tình quan hệ thân hữu Việt-Xô, Đặng tránh không nêu đích danh Liên Xô mà dùng từ “siêu cường”. Đặng cảnh báo các vị khách Việt Nam: “các siêu cường là những kẻ đàn áp, bóc lột quốc tế lớn nhất hiện nay”; rồi kín đáo kêu gọi Việt Nam cùng Trung Quốc chống lại Liên Xô. Đặng nói: “Càng lúc càng có nhiều người thấy rằng trận chiến chống siêu cường bá quyền là sứ mệnh tối quan trọng của nhân dân các nước”. Trong đoạn nói về sự thay đổi của thời cuộc, Đặng không dùng những ngôn từ truyền thống khi đề cập tới Trung Quốc và Việt am như ngày xưa vẫn dùng, ví dụ quan hệ “ như môi với răng” – mà sử dụng cách diễn đạt thuần tuý công việc, gọi hai nước Trung-Việt là “ các nước láng giềng xã hội chủ nghĩa anh em”. Với điều đó, Đặng lưu ý Duẩn rằng gìn giữ và phát triển tình hữu nghị Trung-Việt là phù hợp với những lợi ích căn bản của hai nước. [24]

Lê Duẩn đã từng tham dự nhiều bữa tiệc chiêu đãi tại Đại Lễ Đường Nhân dân trang hoàng lộng lẫy ánh đèn, nhưng đây là lần đầu tiên Ông đến Bắc Kinh không chỉ để xin viện trợ mà còn nhằm bày tỏ quan điểm của nước Việt Nam thống nhất và độc lập. Duẩn hết lời ca ngợi sự thành công của Trung Quốc trong công cuộc xây dựng Xã hội Chủ Nghĩa và nói rằng Việt Nam có  những “tình cảm nồng nàn và lòng biết ơn sâu sắc” đối với sự giúp đỡ của Trung Quốc, và bằng cách lịch sự nhưng kiên quyết, Duẩn đã bác bỏ quan điểm của Trung Quốc về thế giới. Xuất phát từ sự ghi nhận rằng chiến thắng của Việt Nam không thể  đạt được nếu không có sự ủng hộ và trợ giúp “to lớn và vô cùng giá trị” của các nước xã hội chủ nghĩa anh em – tức là Khối Xô Viết – Duẩn nói tiếp: “với lý do đó, thắng lợi này là thắng lợi chung của các lực lượng của chủ nghĩa xã hội, các lực lượng độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình trong cuộc đấu tranh chung chống lại chủ nghĩa Đế quốc do Đế quốc Mỹ cầm đầu”. Bằng cách nói đa ngôn này, Duẩn muốn nói rằng Việt Nam không vào phe Trung Quốc chống Liên xô. Cho dù có sự khác biệt chính trị này, Duẩn vẫn nài viện trợ. Duẩn nhắc nước chủ nhà rằng “Nhân dân Việt Nam tin tưởng chắc chắn rằng trong giai đoạn mới cũng như trong quá khứ, vẫn tiếp tục nhận được sự ủng hộ, sự hỗ trợ vĩ đại và nồng ấm của Trung Quốc.” [25] Tại Hà Nội, bản tin của cơ quan thông tấn xã Việt Nam cắt bỏ phần nói tới siêu cường bá quyền trong bài diễn văn của Đặng.

Việc  Duẩn từ chối vào phe với Trung Quốc làm cho Bắc Kinh thêm cứng rắn trong quan điểm về viện trợ. Năm tuần lễ trước khi Lê Duẩn lên đường đi Trung Quốc, Lê Thanh Nghị, với biệt danh người Trung Quốc gọi là “ kẻ ăn xin” vì thường xuyên có những chuyến công cán sang Bắc Kinh xin viện trợ- đã đến Thủ đô Trung Quốc xin viện trợ [26]. Hồi tháng Sáu năm 1973, Chu Ân Lai đã yêu cầu Duẩn ngừng chiến ở miền Nam trong vòng 2 năm và đổi lại, hứa sẽ viện trợ cho Việt Nam thêm năm năm nữa bằng mức năm 1973. Nhưng vào ngày 13 tháng Tám năm 1975 khi Nghị đến bên giường bệnh thăm Chu đang hấp hối, ông ta cảm thấy Chu đã đổi giọng khác. Theo một bài viết trên Tạp chí Bắc Kinh [Peking Review] phát hành sau đó, Chu đã nói với vị khách từ Việt Nam rằng “ Trong thời chiến, khi các đồng chí cần nhất, chúng tôi đã hy sinh nhiều thứ của quân đội chúng tôi cho các đồng chí. Chúng tôi đã cố gắng hết sức giúp các đồng chí. Tổng giá trị viện trợ của chúng tôi cho Việt Nam luôn đứng hàng đầu trong tổng viện trợ của chúng tôi cho nước ngoài. Các đồng chí hãy cho chúng tôi nghỉ lấy sức”. [27]

Bây giờ, Duẩn đã thấy rõ các nhà lãnh đạo Trung Quốc kiên quyết chấm dứt viện trợ không hoàn lại và các trợ giúp lương thực đã hứa trước kia. Họ nói rằng chiến tranh đã qua, lúc này Việt Nam phải tự nuôi thân. Trong buổi hội kiến Mao, Nghị tìm cách nhún nhường nói với Mao “Không có Trung Quốc là hậu phương to lớn của chúng tôi, không có sự chỉ đạo và viện trợ của các đồng chí thì chúng tôi không thể thành công… chúng tôi luôn cho rằng chính Trung Quốc chứ không phải Liên Xô đã hỗ trợ trực tiếp và đáng kể nhất vào thời điểm khó khăn khi số phận treo trên sợi tóc.” [28] Những ngợi ca đó không mang lại được gì hơn ngoài cam kết cho vay không lãi suất để Việt Nam nhập khẩu dầu lửa và hàng hoá tiêu dùng. Biểu hiện duy nhất cho thấy TQ chưa bỏ hẳn Việt Nam đó là thái độ Bắc Kinh chưa tới mức đóng sầm cửa lại vì vấn đề các hòn đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa. Trong cuộc hội đàm với Duẩn hôm 24 tháng 9, Đặng không dùng giọng tuyên truyền coi “những hòn đảo này là vùng đất thiêng liêng bất khả xâm phạm của Trung Quốc” và do đó [là đối tượng] miễn thương thuyết. Đặng chỉ thừa nhận rằng còn có tranh chấp về vấn đề các hòn đảo và cần được giải quyết thông qua thương lượng. [29]

Tuy nhiên, do sự khác biệt về chính trị giữa hai bên đã quá lớn và cũng do sự thất vọng của Duẩn nên hai bên không ra được một bản thông cáo chung. Không chỉ từ chối bản thông cáo chung – điều mà Duẩn đã từng làm trong chuyến thăm chính thức năm 1973- Duẩn còn huỷ cả buổi chiêu đãi theo thông lệ để cảm ơn nước chủ nhà, điều mà sau này một quan chức Trung Quốc gọi là “Một hành động khác thường của một lãnh đạo đảng anh em.” [30]  Ngày 25 tháng Chín Duẩn rời Bắc Kinh đi Thiên Tân (Tientsin TG) bằng tàu hoả để về nước. Nước Việt Nam hậu chiến lần đầu tiên đã có hành động công khai làm mất mặt Bắc Kinh.

Một tháng sau lại có một hành động làm mất mặt khác khi Duẩn đi Mat-xcơ-va để nhận viện trợ dài hạn của Liên xô như đã hứa hẹn và ký một bản thông cáo chung tán thành quan điểm chính sách đối ngoại của Liên Xô. Theo lời một quan chức Trung Quốc sau đó nói với tôi, thì bản thông cáo chung Xô-Việt ký ngày 30 tháng Mười là “ sự đầu hàng của Việt Nam trước chủ nghĩa bá quyền.” [31]

Những diễn biến ở Viêt Nam dường như cũng khẳng định sự lo ngại tột bậc của Trung Quốc. Ngoài miệng, Trung Quốc nói ủng hộ mục tiêu thống nhất đất nước của Viêt Nam, nhưng Trung Quốc quan sát một cách lo ngại viễn cảnh thống nhất về chính trị và hành chính của hai miền Việt Nam vì điều đó có thể làm thay đổi đáng kể sự cân bằng ở Đông Dương. Trong điện văn chúc mừng Việt Nam sau chiến thắng, Bắc Kinh khôn khéo ám chỉ sự lo ngại này như sau: “Chúng tôi chân thành chúc nhân dân Miền nam Việt Nam không ngừng đạt những thắng lợi mới và to lớn hơn nữa trong cuộc đất tranh không ngừng để tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc và dân chủ của mình.” [32]  Ngoài ý đồ tuyên truyền gieo sự nghi ngờ rằng thắng lợi  chủ yếu do công lao của nhân dân Miền Nam chứ không phải nhờ vào chiến cụ và bộ đội Miền Bắc, người Trung Quốc còn nói rõ rằng họ mong muốn một chế độ xã hội ở phía nam tách khỏi chế độ của Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa.

Trong vài tháng đầu sau chiến thắng, ban lãnh đạo Việt Nam gieo một ấn tượng rằng ít ra trong năm năm Miền Nam sẽ duy trì một chế độ kinh tế xã hội riêng biệt trước khi sáp nhập với Miền Bắc Xã hội chủ nghĩa. [33]  Trong bài diễn văn ngày 19 tháng Năm mừng chiến thắng, Lê Duẩn tuyên bố rằng Miền Nam cần xây dựng một “chế độ dân tộc dân chủ” – theo ngôn ngữ Mácxít, tức là một loại hình nhà nước tiền XHCN. Chính phủ Cách mạng lâm thời Miền Nam Việt Nam cũng nộp đơn xin một ghế riêng tại Liên Hợp quốc. Nhưng sau sáu tháng điều hành công việc ở Miền Nam, những người lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam kết luận rằng việc trì hoãn thống nhất là lợi bất cập hại. Quá trình nhanh chóng xoá bỏ hệ thống tư bản ở Miền Nam có thể châm ngòi cho những bất ổn và kháng cự, việc duy trì chế độ doanh nghiệp tự do trong lúc thiếu cán bộ có năng lực, có thể dẫn tới những tình huống lộn xộn, và nghiêm trọng hơn, làm tăng xu hướng ly khai ở Miền Nam. Các nhà lãnh đạo Việt Nam cũng cảnh giác trước khả năng Bắc kinh liên hệ chỉ đạo trực tiếp những người cộng sản Miền Nam thông qua hệ thống người Hoa ở Chợ lớn và mối quan hệ chặt chẽ của Bắc kinh với nước Campuchia láng giềng. Thực tế về âm mưu của TQ muốn duy trì một Miền Nam ly khai chính là lý do đẩy nhanh thống nhất hai miền để nhằm làm thất bại mọi âm mưu của Trung Quốc.

Đột nhiên, Đài phát thanh Hà Nội và Đài phát thanh Thành phố Hồ Chí Minh ngày 9/11 cùng lúc thông báo việc triệu tập “Hội nghị Hiệp thương” chuẩn bị tái thống nhất hai chính quyền. Khi hội nghị này công bố kết luận vài tuần sau đó, thì Trung Quốc hiển nhiên vắng mặt trong danh sách các nước XHCN gửi điện chúc mừng Hà Nội.

Bị chọc tức thêm, Trung Quốc biểu lộ cơn tức giận bùng lên đối với Việt Nam vào ngày 24 tháng 11, ba ngày sau khi “Hội nghị Hiệp thương” công bố kết luận chủ trương thống nhất hai miền. Trung Quốc phá tan sự im lặng kìm nén bấy lâu nay đối với việc quần đảo Trường Sa được quân đội của Hà Nội “giải phóng” hồi tháng Tư. Một bài bình luận dài trên tờ Quang Minh nhật báo (Guangming daily) kể lể về sở hữu lịch sử lâu đời của Trung Quốc đối với các hòn đảo ở Trường Sa và Hoàng Sa nhằm nhắc nhở Việt Nam. Trái ngược với quan điểm hồi tháng Chín của Đặng vốn coi những hòn đảo này là vùng tranh chấp, tờ Quang Minh Nhật báo lại gọi đó là phần lãnh thổ thiêng liêng bất khả xâm phạm của Trung Quốc. Bài báo tuyên bố một cách đáng ngại rằng: “Tất cả những hòn đảo thuộc về Trung Quốc phải được trở lại nằm trong vòng tay của đất mẹ.” [34]

Không nhụt chí vì sự đe dọa bóng gió của Trung Quốc, Hà Nội đã bắt tay ngay vào thực hiện kế hoạch củng cố kiểm soát Miền Nam, bao gồm một triệu rưởi Hoa Kiều. Tháng Hai năm 1976, một cuộc điều tra dân số được tổ chức để chuẩn bị cho tổng tuyển cử. Vì việc khai nhận quốc tịch nước ngoài có thể dẫn tới bị mất các quyền công dân, đồng nghĩa với mất đi khẩu phần lương thực, do đó nhiều người Hoa ở Miền Nam đành phải trở thành công dân Việt Nam.

Đối với Bắc Kinh, đây là sự vi phạm thỏa ước miệng năm 1955 giữa Trung Quốc và Bắc Việt Nam cho phép người Hoa cư trú tại Việt Nam được “tự nguyện” nhập quốc tịch Việt Nam, và đồng thời cũng là sự vi phạm chính sách tương tự do Mặt trận Giải phóng Miền Nam Việt Nam công bố. Trung Quốc bí mật phản đối cái gọi là “cưỡng bức nhập quốc tịch” đối với Hoa Kiều ở Việt Nam. Đã có ba cuộc họp kín để thảo luận về việc này hồi tháng Hai và tháng Tư năm 1976 nhưng không có kết quả. Ba năm sau, Nguyễn Trọng Vĩnh, Đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh giải thích với tôi rằng: “Không có khái niệm tự nguyện trong thỏa ước 1955”. Hai năm sau, cách đối xử của Hà Nội với Hoa Kiều châm ngòi cho cuộc đối đầu Trung – Việt.

Gần như cùng thời gian tổ chức điều tra dân số, chuẩn bị bầu Quốc hội thống nhất, Việt Nam đồng thời có những bước đi tăng cường vai trò ở Đông Dương bằng cách lôi kéo Lào vào một liên minh chặt chẽ hơn và tìm cách nối lại thương thuyết về tranh chấp lãnh thổ với Campuchia. Những nhà lãnh đạo Hà Nội đã quyết định rằng thống nhất chính quyền và kế hoạch hóa, xét về mặt đối nội, và thắt chặt quan hệ với các nước láng giềng Đông Dương, xét về mặt đối ngoại, chính là những điều kiện quan trọng để bắt tay vào thực hiện nhiệm vụ tái thiết đất nước bị tàn phá sau chiến tranh và tiến lên quá độ xã hội chủ nghĩa. Trớ trêu thay, chính sách này đã làm cho xung đột trong quan hệ song phương giữa Việt Nam với Trung Quốc và Việt Nam với Campuchia cùng hội tụ vào một điểm chung. Vì Trung Quốc và Campuchia đều có những lý do riêng để bất hòa với Việt Nam, họ đã hợp nhất cùng đương đầu với một Việt Nam đang trỗi lên thành sức mạnh chế áp Đông Dương.

Không biết do chủ ý hay ngẫu nhiên, hai ngày sau khi Thỏa ước quân sự bí mật giữa Trung Quốc và Campuchia được ký kết ở Phnôm Pênh, Việt Nam có những bước đầu tiên tiến tới hình thành một liên minh Đông Dương. Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, đồng thời  là Tổng bí thư Đảng Nhân Dân Cách Mạng Lào (LPRP) Cay-sỏn Phôm-vi-hản, nhân vật đồng minh lâu năm với Việt Nam, đã tới thăm chính thức Hà Nội. Một bản Thông cáo chung được ký giữa Cay-Sỏn và Duẩn hôm 12 tháng Hai năm 1976 tuyên bố mối “quan hệ đặc biệt” giữa hai nước vì sự hợp tác lâu dài, tương trợ và phối hợp hành động chống “chủ nghĩa đế quốc và bọn phản cách mạng ở nước mình.” Bản Thông cáo chung cũng hứa hẹn “gia tăng đoàn kết giữa Lào, Campuchia và Việt Nam.” Sau này, một nhà quan sát thạo tin đã lưu ý tôi rằng cách diễn đạt biểu trưng của Việt Nam về “quan hệ đặc biệt” với Lào “nhằm bảo đảm Lào dành ưu tiên hướng về Việt Nam,” “có thể đã gây hiểu là [Việt Nam muốn] cảnh cáo Trung Quốc và nhóm Pol Pot rằng Hà Nội sẽ không tha thứ cho Campuchia vào phe với Trung Quốc chống Việt Nam.” [35]

Về phía Bắc Kinh, không thấy có phản ứng tức khắc đối với cụm từ “quan hệ đặc biệt”. Vài tuần sau, khi Việt Nam tưng bừng tổ chức kỷ niệm một năm “giải phóng” Miền Nam, thì Bắc Kinh chào đón sự kiện này bằng sự im lặng. Không thấy có một bài xã luận nào trên tờ Nhân Dân Nhật Báo, cũng chẳng có điện văn chúc mừng ngoại giao gửi tới các nhà lãnh đạo Hà Nội.

Phnôm Pênh cũng vậy, họ tránh bình luận công khai về diễn biến mới này. Tuy nhiên, người ta có thể đoán được mức độ chống đối sâu sắc của Khmer Đỏ đối với “quan hệ đặc biệt” qua giai thoại được Quốc trưởng Campuchia kiêm lãnh đạo Mặt Trận Đoàn Kết Quốc gia Campuchia – Hoàng thân Norodom Sihanouk kể lại trong hồi ký của ông “La calice jusqu’à la lie” (cay đắng tận cùng). Trong đoạn hồi ký, Sihanouk kể rằng trong chuyến thăm Hà Nội tháng Chín năm 1975 nhân dịp kỷ niệm Quốc khánh lần thứ 30 Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ông ta và Khiêu Samphan hội kiến Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông Đồng mời họ tới dự “bữa cơm gia đình” với những người Bắc Việt Nam, thành viên Chính phủ Cách mạng Lâm thời (PRG) và các nhà lãnh đạo Lào đang có mặt ở Hà Nội. Trước sự kinh ngạc và hoảng hồn của Sihanouk, Samphan “lạnh lùng từ chối lời mời và nói rằng Campuchia muốn có một bữa tiệc song phương”. Sau này, Samphan giải thích với Hoàng thân rằng: “Chúng ta không bao giờ để rơi vào cái bẫy của người Việt Nam, những người chỉ muốn cai trị và nuốt chửng Campuchia bằng cách sáp nhập [CPC] vào Liên Bang Đông Dương.” Ông ta chốt lại rằng “ý tưởng về một bữa tối như thế quả thật rất nguy hiểm.”

Con Ngáo Ộp Liên Bang Đông Dương mà Đảng Cộng Sản Đông Đương muốn dựng lên từ thập niên 1930 vẫn tiếp tục ám ảnh người Khmer. Ngày 17 tháng Tư, phát biểu tại lễ kỷ niệm một năm “giải phóng” Campuchia, Ieng Sary, trong nỗi ám ảnh về “mối quan hệ đặc biệt” đã tuyên bố: “Nhân dân chúng ta kiên quyết không cho ngoại bang chôn vùi nền độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Campuchia.” Nói bóng gió về sự hiện diện của Quân đội Việt Nam tại Lào nhờ “mối quan hệ đặc biệt,” Sary nói: “phòng vệ một quốc gia phải là bổn phận của chính nhân dân nước đó, và cách mạng ở một nước phải do chính nhân dân của đất nước đó tiến hành một cách độc lập.”[36]

Mặc dù vẫn có thái độ phê phán úp mở như vậy, thông qua Đại sứ Việt Nam tại Phnom Pênh, Phạm Văn Ba, phía Campuchia vẫn chấp thuận đề nghị của Việt Nam mở một hội nghị thượng đỉnh vào tháng Sáu. Một mặt, vẫn kiên định đối với những vấn đề chính trị, mặt khác, Campuchia Dân Chủ vẫn tìm lối giải quyết vấn đề biên giới. Thực ra, Phnôm Pênh nhìn vào thái độ của Việt Nam đối với  tranh chấp lãnh thổ như một phép thử về thiện chí của Hà Nội và đồng thời coi thiện chí đó là điều kiện tiên quyết để tổ chức hội nghị thượng đỉnh.

Thứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Phan Hiền đến Phnom Pênh ngày 4 tháng Năm để thảo luận trong thời gian hai tuần lễ về vấn đề biên giới. Cuộc thảo luận ngay lập tức vấp phải khó khăn đầu tiên khi Việt Nam kiên quyết đòi sử dụng bản đồ trước 1954 do Pháp ấn hành để phân giới, trong khi phía Campuchia, mặc dù chấp thuận bản đồ này là cơ sở để thảo luận, nhưng vẫn bảo lưu quyền sửa đổi, bổ sung đường biên giới. Về sau, Ieng Sary giải thích: “Bản đồ của Pháp có lợi cho Việt Nam vì khi bản đồ ấy được vẽ ra, thì Nam Kỳ đang là thuộc địa của Pháp. Nếu chúng tôi chấp thuận theo bản đồ ấy để vẽ đường biên giới trên bộ, thì Việt Nam cũng phải chấp thuận đường biên giới trên biển do người Pháp vạch ra.”[37]

Vấn đề ở chỗ: khi vẽ bản đồ, người Pháp không hề kẻ vẽ đường biên giới trên biển theo đúng  nghĩa hải phận. Năm 1939, đường Brévié – gọi theo tên Jules Brévié, Toàn quyên Pháp ở Đông Dương – được vẽ để xác định ranh giới hành chính và vùng thẩm quyền cảnh sát đối với các hòn đảo nằm giữa Nam Kỳ (Cochin China) và Campuchia. Đường ranh  này được kẻ theo góc 140 độ từ bờ biển giữa hai vùng kiểm soát của Pháp ra tới Vịnh Thái Lan, nhưng lại đi vòng xung quanh và cách Đảo Phú Quốc một dặm rưỡi để hòn đảo này hoàn toàn thuộc quyền quản lý của Nam Kỳ. Đó là mục đích của chính quyền thực dân. Tuy nhiên, chính Brévié có chú thích rằng “để ngỏ vấn đề chủ quyền những đảo này thuộc về ai.”[38]

Trong cuộc thương thuyết giữa Campuchia và Mặt Trận Giải Phóng Dân tộc năm 1966, đường Brévié đã được hai bên chấp thuận làm đường biên giới trên biển giữa hai nước, có lẽ vì lúc đó, Mặt Trận Giải Phóng Dân tộc Miền Nam Việt Nam cần sự ủng hộ của Hoàng thân Sihanouk. Trong cuộc phỏng vấn ở Paris hồi tháng Sáu năm 1977( lúc đó cuộc thảo  luận Tháng Năm 1976 và vai trò của Phan Hiền còn giữ bí mật) tôi hỏi Ông Hiền liệu Hà Nội có chấp thuận đường ranh Brévié hay không? thì nhận câu trả lời: “có, nhưng khi chấp thuận đường Brévié, chúng tôi chưa hình dung được các vấn đề hải phận, thềm lục địa và những khái niệm mới như vậy”. Rõ ràng, điều đó gợi cho thấy Hà Nội bắt đầu xem xét lại đường biên giới trên biển từ khi khi có việc thăm dò dầu khí trong khu vực vào thập niên 1970.

Thách thức đối với Đoàn làm phim

Trong thời gian thương thuyết ở Phnôm Pênh, Phan Hiền đồng ý giải quyết vấn đề chủ quyền các hòn đảo trên cơ sở đường Brévié – theo đó, những đảo ở phía Bắc đường ranh này thì thuộc Campuchia và những đảo phía Nam thì thuộc Việt Nam. Tuy nhiên, Hiền lại đề nghị vẽ lại đường ranh này để xác định vùng nước lãnh thổ. Về sau, khi tranh chấp công khai, Phnom Pênh tố cáo đề nghị của Việt Nam là nhằm giành phần lớn diện tích biển của Campuchia. “Đối với người Khmer, đó là bằng chứng cho dã tâm bành trướng của Việt Nam đối với Campuchia.” Cuộc thương thuyết bị hoãn vô thời hạn, rồi sau đó không họp lại nữa, và theo chiều hướng đó, ý tưởng về hội nghị thượng đỉnh cũng chết luôn. Mặc dù cuộc thương thuyết về biên giới thất bại, nhưng không bên nào đóng sầm cửa lại. Phan Hiền về Hà Nội mang theo lời mời của Ieng Sary mời báo chí Việt Nam đến thăm quốc gia bí hiểm Campuchia Dân Chủ.

Tháng Bảy năm 1976, một đoàn đại biểu báo chí và truyền hình Việt Nam do Trần Thanh Xuân, Phó Giám đốc Việt Nam Thông Tấn xã dẫn đầu đến thăm Campuchia. Đây là đoàn báo chí ngoại quốc đầu tiên thăm Campuchia. Xuân, trạc 50 tuổi, lực lưỡng, đeo kính cận, được chọn vì đã có thời kỳ du học ở Pháp, từng biết Pol Pot, Ieng Sary và nhiều người Campuchia khác sau này trở thành các nhà lãnh đạo Cộng Sản Campuchia. Pol Pot, con người bí hiểm, mà người nước ngoài vẫn còn đang đồn thổi về lai lịch thật, đã như bước ra từ bóng tối để Xuân phỏng vấn và chụp ảnh. Bốn năm sau, khi hồi tưởng cuộc gặp này, Xuân có cảm nhận Pol Pot là người khá hấp dẫn. Không chỉ ra dáng chủ nhà hào phóng, Pol Pot, ngay trong lần phỏng vấn đầu tiên đã bày tỏ sự biết ơn đối với những người bạn, người anh em Việt Nam về sự giúp đỡ trước đây và nói rằng tình hữu nghị và đoàn kết giữa hai bên “ vừa là vấn đề chiến lược, vừa là tình cảm thiêng liêng.”

Mục tiêu của Campuchia mời báo chí Việt Nam –Xuân giải thích với tôi trong cuộc phỏng vấn hồi tháng Giêng năm 1981 tại thành phố Hồ Chí Minh – là nhằm bù đắp những thiệt hại do các bản tin và bình luận mang nặng tính phê phán của các đại sứ Phương Tây lần đầu tiên tới thăm Campuchia vào hồi tháng Ba. Pol Pot cho rằng người Việt Nam quả đúng là những người đáng gửi gắm làm nhiệm vụ báo chí giảm thiệt hại này. Pol Pot quả thật đã không nhầm. Mặc dù những người trong đoàn nhà báo Việt Nam bị xốc trước những cảnh tượng nhìn thấy ở đất nước này, nhưng nhờ có cặp mắt diều hâu của Hoàng Tùng, mà những cảm nhận kinh hoàng đó đã được lọc sạch sẽ trong các bản tin, bình luận báo chí. Xuân nhớ lại: “Nhóm quay phim của chúng tôi rất khó tìm thấy những gương mặt nông dân tươi cười xây dựng tổ quốc. Chỉ thấy những gương mặt cau có và buồn bã.” Tùng đã tự tay cắt đi một đoạn Xuân viết cho Báo Nhân Dân rằng: “ thành phố  trống không, dân chúng đều làm việc ngoài đồng.” Tổng biên tập Tùng chỉ đạo: tốt hơn hết là nên tập trung vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh do Lon Nol và Mỹ gây ra. Chuyến thăm này hoàn toàn mang tính tượng trưng. Mãi tới vài năm sau, Tùng mới tiết lộ một chi tiết rằng Pol Pot khi đó đã có một cử chỉ ác ý là gửi biếu Tùng một con vật ăn thịt người, đó là con cá sấu con [39]. Để chọn gửi món quà này chắc hẳn Pol Pot đã ngụ ý nhiều điều. Sau này, bộ máy tuyên truyền của Khmer Đỏ thường dùng khái niệm “những con cá sấu vong ơn bội nghĩa” để ám chỉ người Việt.  [hết tr 34]

Khi quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc và Campuchia càng lúc càng căng thẳng, Hà Nội bắt đầu gia tăng nỗ lực tìm kiếm bạn bè trong các nước không Cộng sản. Vài tháng đầu tiên sau ngày toàn thắng, người Việt Nam đã từng lớn tiếng chỉ trích những nước chống Cộng của Hiệp hội Đông Nam Á (ASEAN) vì vai trò trong quá khứ đã đồng loã với Đế quốc Mỹ, và yêu cầu huỷ bỏ các căn cứ quân sự Mỹ ở Thái Lan và Philippin. Nhưng vào cuối năm 1975, Việt Nam đã nhìn ra quyết tâm của Trung Quốc muốn ve vãn các nước ASEAN để phục vụ cho chiến lược chống Liên Xô và chống Việt Nam. Việt Nam đặc biệt đã nhận thấy Bắc Kinh đang nỗ lực làm mối cho quan hệ giữa Campuchia và Thái Lan. Không đầy một tháng sau khi Sài gòn thất thủ, Trung Quốc đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Thái Lan. Tháng Mười năm 1975, trong khi Việt Nam chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Thái Lan, thì Ieng Sary đã thông qua Trung Quốc đáp chuyến bay của hãng hàng không Trung Quốc sang Băng-cốc trong chuyến thăm ngoại giao phá băng quan hệ hai nước.

Trong khi Việt Nam tự cho mình là “tiền đồn xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam Á” và ấp ủ một viễn cảnh trở thành vùng đất thánh cách mạng của phong trào Cộng sản ở khu vực, thì những lãnh đạo của họ cũng đủ thực dụng để nhận ra rằng ưu tiên tối thượng của họ là tái thiết nền kinh tế vá víu. Các phong trào khởi nghĩa [chống chính quyền phi cộng sản ND] đang ở giai đoạn trứng nước; vì vậy, Hà Nội buộc phải quan hệ với các chính thể đang cầm quyền. Bình thường hóa quan hệ với các nước láng giềng trở nên cần thiết vì cả lý do chính trị lẫn kinh tế. Việt Nam sẽ không có cơ hội nhận viện trợ và các tín dụng từ các nước Phương tây nếu họ bị coi là phần tử quấy rối trong khu vực .

Sự im lặng mặt sưng mày xỉa ở Bắc Kinh

Ngày Năm tháng Bảy, ba ngày sau khi chính thức thống nhất và đổi tên Chính quyền Cách mạng Lâm thời Cộng hoà Miền Nam Việt Nam và Việt Nam Dân Chủ Cộng hoà thành Nước Cộng hoà Xã hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Hà Nội công bố chính sách bốn điểm về thiết lập và phát triển “quan hệ hữu nghị và hợp tác trên nhiều lĩnh vực” với các nước Đông Nam Á: quan hệ dựa trên sự tôn trọng nền độc lập của nhau, không nước nào tự cho mình quyền được cho phép nước ngoài sử dụng nước mình làm căn cứ để trực tiếp  hoặc gián tiếp xâm lược nước khác, các nước [Đông Nam Á] theo đuổi chính sách láng giềng tốt, và thúc đẩy hợp tác “ phù hợp với những điều kiện đặc biệt của mỗi quốc gia và vì nền độc lập, hòa bình và trung lập thật sự ở Đông Nam Á.” [40]

Một tuần sau, Phan Hiền bắt đầu kế hoạch đi thăm Philippin, Malaysia, Singapore, Indonesia và Miến Điện. Trong chuyến đi này, Hiền chối bay sự tấn công vào các nước ASEAN của báo giới Hà Nội trong quá khứ bằng lập luận khéo léo. Hiền nói “ Nhà báo  viết về cái mà họ cảm nhận chứ không phải đó là quan điểm của chính phủ.” Dù chẳng có chính phủ một nước ASEAN nào chờ đợi Việt Nam tự phê bình, phản ứng chung là những cái gật đầu lịch sự. Trừ Singapore vẫn tỏ vẻ bi quan về thiện nguyện của Hà Nội muốn trở thành quốc gia láng giềng tốt, đối với các nước ASEAN khác, Hiền có vẻ đã gây được ấn tượng về sự chân thành của Hà Nội trong tìm kiếm thân hữu khác biệt về ý thức hệ. Thái độ mỉm cười của Hà Nội thay cho tình trạng cằn nhằn trước kia đối với các nước ASEAN đã mang đến bầu không khí giải toả căng thẳng.

Một nhân vật hàng đầu của Bộ Ngoại giao Malaysia, sau chuyến đi của Ông Hiền tới Kuala Lumpur nói với tôi: “Chúng tôi có ấn tượng Việt Nam muốn giữ khoảng cách cân bằng giữa Mát-x-cơ-va và Bắc Kinh.” Hiền nói với các viên chức Mã Lai là “Việt Nam chống lại bá quyền của các nước lớn. Và không ai được phép dùng căn cứ Hải quân Cam Ranh.” Một quan chức Mã Lai nói: “Rõ ràng đó là lời bóng gió nói tới Liên Xô. Và cũng chẳng hay ho gì mà nói việc ấy với các nước không Cộng Sản.” Những người bạn Malaysia lấy làm thú vị khi chính những những nhà ngoại giao Xô-Viết và Đông Âu lại là những người muốn biết nhất về những điều mà những vị khách Việt Nam đã nói với họ. Có điều khôi hài là khi Hiền mô tả đã bay ngang vùng trời “ các đảo Trường Sa của chúng tôi” trên chặng bay từ Manila tới Kuala Lumpur, Ông ta chẳng đả động gì tới Trung Quốc.

Trung Quốc quan sát Việt Nam trong nỗ lực kết bạn với các nước Đông Nam Á với sự im lặng khó chịu. Tân Hoa xã xưa nay thường đưa tin về những vấn đề quan trọng trong hoạt động đối nội và đối ngoại của Việt Nam, nhưng lại hoàn toàn không đả động gì tới chuyến đi của Thứ trưởng Phan Hiền. Vài ngày sau khi Ông Hiền trở về Hà Nội, Đài phát thanh Bắc Kinh phát đi một bài bình luận, cảnh báo các nước ASEAN về âm mưu xâm nhập và bành trướng của đất nước Xô-Viết. Bài bình luận viết “ Chừng nào nhân dân các nước Đông Nam Á đoàn kết như một, kiên trì chiến đấu, thì họ không những có  thể đuổi được Hổ, mà còn có thể bảo vệ nền độc lập và chủ quyền của họ một cách thành công.”[41]

Căn  cứ vào thời điểm của buổi phát thanh có thể thấy rõ sự ám chỉ rõ ràng về quốc gia làm tay sai cho Liên –Xô xâm nhập [vào khu vực này]. Mặc dù Bắc Kinh cố kiềm chế không buộc tội đích danh Việt Nam, nhưng một số người Việt trực tính không giấu giếm quan điểm đứng về phía Liên Xô chống Trung Quốc. Trong cuộc phỏng vấn của nhà báo Thụy Điển Eric Pierre, hồi tháng Bảy, Hoàng Tùng đã nói: “Lợi ích của Liên Xô hiển nhiên trùng với lợi ích của Việt Nam trong việc giảm ảnh hưởng của Trung Quốc ở khu vực này.” Chính phát biểu này, về sau đã được các nhà lãnh đạo Trung  Quốc nhắc nhở Hà Nội như một ví dụ minh hoạ rằng Việt Nam đã “xúc phạm nhân dân Trung Quốc” [42] tới mức nào.

Vào mùa hè năm 1976, Trung Quốc do quá bận rộn với cuộc đấu tranh nội bộ, nên ngoài một số bài báo tuyên truyền nửa úp, nửa mở, hầu như không phản công những đòn tấn công ngoại giao của Việt Nam. Từ cuối 1973 trở đi, Bộ Chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc bị chia rẽ sâu sắc. Một số ủng hộ đường lối thực dụng của Chu Ân Lai, đối phó với sự đe dọa của Liên Xô bằng cách tìm sự liên minh với Hoa Kỳ. Chống lại Phe Chu Ân Lai là phái cấp tiến, dẫn đầu là Trương Xuân Kiều (Zhang Chunqiao) và Vương Hồng Văn (Wang Hongwen). Họ kêu gọi chống lại cả hai siêu cường và cổ vũ cho các cuộc đấu tranh vũ trang chống chủ nghĩa Đế quốc.[43] Nhóm này là những phần tử ủng hộ trung thành của Khmer Đỏ. Nhóm cấp tiến dần dần giành ưu thế với tư cách là bàn tay kiềm chế của Mao và sức chống cự của nhóm Chu Ân Lai suy yếu dần. Năm 1974-1975, nhóm cấp tiến bắt đầu tấn công trực diện vào quan hệ với Mỹ và chỉ trích những người thân Liên Xô và Mỹ, mà theo họ, đó là hậu quả của chính sách thời Chu Ân Lai.

Tháng Giêng 1976, Chu Ân Lai qua đời. Đặng Tiểu Bình, cánh tay phải của Chu bị thanh trừng vào tháng Tư năm đó. Cán cân trong Bộ Chính trị nghiêng về nhóm cấp tiến. Hoa Quốc Phong, một người Hồ Nam vạm vỡ, thuộc nhóm cấp tiến đã khẳng định vị trí đứng đầu trong ban lãnh đạo. Tuy nhiên đây không phải là thắng lợi mang tính quyết định. Rồi vào những giờ đầu tiên của ngày Chín tháng Chín, người cầm lái vĩ đại- Mao- biến mất khỏi chính trường. Đột nhiên, số phận của Trung Quốc trở nên mong manh, tương tự là vị thế của Trung Quốc trên thế giới. Cùng với 900 triệu người dân Trung Quốc, những nhà lãnh đạo trên toàn thế giới, nhất là ở Mát-xcơ-va, Washington, Hà Nội, và Phnom Pênh đều hướng mắt về Bắc Kinh và chờ đợi.

Đón đọc:

HOÀNG THÂN SIHANOUK: Chiến thắng

Tại ngôi nhà sang trọng trên đường Chống Đế quốc (Anti-Imperalism) ở Bắc Kinh, Hoàng thân Norodom Sihanouk nhận tin Phnôm Pênh thất thủ. Một bản điện báo do một quan chức của Bắc Kinh mang đến sáng ngày 17 tháng Tư năm 1975 cho biết: những người đồng minh trong năm năm liền của ông – Khmer Đỏ –  đang tiến vào Thủ đô Phnôm Pênh .

Tướng Lon Nol, bị liệt hai chân, người cầm đầu cuộc đảo chính năm 1970 lật đổ Sihanouk, đã sang sống lưu vong ở Mỹ. Những tên “phản bội” khác đã từng hợp tác với Lon Nol thì hoặc bỏ chạy khỏi đất nước, hoặc đầu hàng Khmer Đỏ. Chiến tranh chấm dứt. Trò chơi liên minh với kẻ thù Cộng sản mà Hoàng thân dấn thân vào hồi Tháng Tư năm 1970 cũng đã tàn. Danh dự của ông được phục hồi. Những tướng tá và chính trị gia phản động, đầy máu tham tiền bạc đã đổ tên ông xuống bùn nhơ sau cuộc đảo chánh, nay cũng đã bị quẳng vào thùng rác của lịch sử. Vị cha đẻ của nền độc lập Campuchia không muốn chấm dứt sự nghiệp của mình trong sự nhục nhã của một quốc vương lưu vong. Ông Hoàng cũng cũng đủ thức thời để nhận biết rằng chiến thắng của Khmer Đỏ cũng có nghĩa là chấm dứt vai trò của ông: biểu tượng cho sự thống nhất và tính hợp pháp của cuộc kháng chiến của nhân dân Khmer. Khi không còn hữu ích cho Khmer Đỏ nữa, Hoàng thân Sihanouk trong một cuộc phỏng vấn năm 1973 đã nói rằng “ họ sẽ nhổ tôi ra như nhổ một hột anh đào”. Lời tâm sự này như biểu lộ nỗi sợ hãi thật sự lường trước những điều sẽ đến. Khi lễ mừng chiến thắng ở Bắc Kinh đã lắng xuống và rồi sau nhiều tuần lễ trôi qua, chẳng có lời mời nào mời ông trở lại Campuchia đã được giải phóng, Sihanouk bắt đầu lo lắng tự hỏi khi nào thì giờ phút kinh hoàng của đời ông sẽ đến.

“Hãy để tôi trở về Phnom Pênh,” Ông Hoàng thúc giục người đại diện Khmer Đỏ ở Bắc Kinh. “Nếu ông không muốn Sihanouk làm Quốc trưởng thì tuỳ ông. Tôi không muốn làm Quốc trưởng nhưng tôi muốn sống ở Campuchia, không muốn làm người tỵ nạn.” Người đại diện cho Khmer Đỏ nói rằng ông ta có thể về nhưng không phải vào lúc này. “Lúc này chúng tôi đang phải đối đầu với nhiều vấn ”, họ nói với ông ta, “ không nên kéo ngài vào những vấn đề này”. Rõ ràng Khmer Đỏ không muốn liều lĩnh đưa ông Hoàng có nhiều ảnh hưởng này về Campuchia để ông ta tiếp tục sử dụng ma lực mỵ dân. Trong lúc Sihanouk chờ đợi và hy vọng thì Khmer Đỏ tiếp tục xua đuổi dân ra khỏi thành phố, thị trấn, phân tán dân cư đô thị ra khắp nơi vì họ “bị nhiễm tư tưởng đế quốc và phản động.” Cuộc “cách mạng huy hoàng” bắt đầu.

[ xem tiếp Tr.39]

CHÚ THÍCH


[23] “Fighting a new kind of war” FEER, 26/9/1975, tr.10

[24] FBIS-PRC, 23/9/1975, A-16

[25] Ibid, A-18-19

[26] Một quan chức Trung Quốc nói với tôi hôm 17/4/1980 rằng vì Lê Thanh Nghị nổi tiếng là người chuyên sang T.Q xin viện trợ, do đó có biệt danh là “the Beggar”

[27] BR. 16/6/1978, tr. 12-16. Mặc dù bài báo không viết ngày họp, tên của vị lãnh đạo Việt Nam, nhưng qua mô tả liên quan tới bệnh tình nghiêm trọng của Chu khi gặp vị khách nước ngoài, liên quan tới chiến tranh, có thể suy đoán Lê Thanh Nghị chính là người trực tiếp nghe Chu truyền đạt điều này. Báo chí Trung Quốc tháng Tám năm 1975 đưa tin Lê Thanh Nghị gặp Chu Ân Lai đang nằm trên giường bệnh.

[28] Tân Hoa Xã 19/6/1981.

[29] Vietnam’s souveraignty over Hoang Sa and Truong Sa Archipelagoes ( BNG Hà Nội, 1979), Tr. 60. Nội dung này cũng được THX xác nhận, 14/8/1979

[30] Phỏng vấn của tác giả với Phó Giám đốc Chinese Center for Contemporary Affairs, Bắc Kinh, 3/8/1982

[31] SWB, 6/6/1978

[32] SWB, 2/5/1975

[33] Carlyle A. Thayer and David G. Marr, Vietnam since 1975, Center for the Study of Australian-Asian Relation Research Paper No. 20 ( Brisbane: Griffith University, 1980, Tr. 7

[34] Ta Kung Pao, Hong Kong, 27/11/1975

[35] Gareth Porter, : Vietnamese Policy and the Indochina Crisis” in the Third Indochina Conflict, David W.P. Elliot, ed. (Boulder, Colo. Westview Press, 1981, tr. 80

[36] SWB, 26/4/1976

[37] Phỏng vấn Ieng Sary của Patrice de Beer, phóng viên Đông Nam Á của Le Monde tại Bangkok, Tháng 10.1975.

[38] Sarin Chhak, Les Frontieres du Cambodge (Paris, Dalloz, 1966) 207-208, và xem Cambodia-Vietnam, International Boundary Study No. 155, BNG Hoa kỳ, Bureau of Intelligence and Research, Washington DC. 1976, 11-12

[39] Phỏng vấn của James Burnet với Hoàng Tùng , Ha noi, 12/1/1986, Ghi chép cá nhân của Burnet.

[40] SWB, 6/7/1976

[41] SWB, 18/8/1976

[42] “Memorandum outlining Vice Premier Li Xiannian;s talk with premier Pham Van Dong on 10/6/1977, Xinhua, 22/3/1979

[43] Jurrgen Domes, China After the Cultural Revolution (London, Hurst, 1976) 247-251


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

ChiDzung

Tin Dong Nam A

Opinion

Just another WordPress.com weblog

Tin Dong Nam A

Trustbuilding's Blog

Just another WordPress.com site

The WordPress.com Blog

The latest news on WordPress.com and the WordPress community.